Làng Mai Xá với lịch sử đấu tranh bảo vệ quê hương Phần 1

Truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm và bè lũ tay sai của làng Mai Xá Chánh luôn được các bậc lão thành cách mạng kể cho con cháu đời sau. Là một người con sinh ra trong thời bình song mỗi lần nghe kể và tái hiện lại những mẫu chuyện làm trong tôi cảm thấy tự hào biết bao.. sau đây mời bà con tìm hiểu về lịch sử chống bọn “cường hào ác bá” và thực dân Pháp giai đoạn thập niên 80 của thế kỷ 19 đến 1954.

lang-mai-xa-voi-lich-su-dau-tranh-bao-ve-que-huong2

Niềm vui thắng trận

 

I. Phong trào Văn Thân
Khi triều đình nhà Nguyễn càng ngày càng bị giặc Pháp can thiệp sâu vào nội chính, bắt nhà vua phải làm theo ý định của chúng thì nhà vua và một số cận thần tìm cách chống lại. Vua Hàm Nghi và một số cận thần chạy ra núi Tân Sở thuộc huyện Cam Lộ, Quảng Trị, rồi hạ chiếu Cần Vương vào ngày 13/07/1885.
Nhiều nơi ở tỉnh Quảng Trị hưởng ứng và đã xuất hiện 6 vườn đào tụ nghĩa
1. Vườn đào Tường Vân – Triệu Phong ông Lê Thế Vĩnh phụ trách
2. Vườn đào Cam Lộ – ông Khóa Bảo phụ trách.
3. Vườn đào Linh Yên – Triệu Phong
4. Vườn đào Bồ Bản – Triệu Phong
5. Vườn đào Bích Khê – Triệu Phong – ông Hoàng Hữu Bính phụ trách.
6. Vườn đào Mai Xá – Gio Linh do cụ Trương Quang Cung làng Mai Xá phụ trách. Cụ Cung và một số người khác hoạt động bí mật tìm cách chống Pháp..
II. Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội trong lòng người Mai Xá Chánh

Năm 1927 tổ chức “Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội”, tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, hoạt động mạnh mẽ lôi cuốn hàng ngàn thanh niên tham gia. Cuối năm 1927, cụ Trương Khắc Khoan được kết nạp vào Hội.

Đầu năm 1928, các cụ Trương Quang Phiên, Trương Quang Côn được kết nạp. Từ đó dân làng Mai đã có ba “hạt giống đỏ” sinh hoạt trong tổ Gio Linh và Vĩnh linh. Ngày 16/5/1929, Ban chấp hành tỉnh bộ giải tán để thành lập tổ chức Cộng sản. Nhưng về sau có kẻ làm phản, các người trong Ban chấp hành tỉnh, huyện đều bị bắt. Năm 1930, ba cụ ở làng đều bị bắt giam. Sau khi ra tù, các cụ đều tham gia hoạt động Cách mạng bí mật, trực tiếp phát động và chỉ đạo những hoạt động của thanh niên trong làng, từ đó tập hợp được lực lượng trẻ, dần dần tạo nên phong trào đấu tranh Cách mạng ở địa phương.
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp 9 năm, ông Trương Quang Phiên đã làm Bí thư Đảng Đoàn cơ quan, làm Phó Chủ tịch và Chủ tịch UB KCHC tỉnh Quảng Trị nhiều năm.
Sau Cách mạng tháng 8, cụ Trương Khắc Khoan – tú tài Hán học – được cử làm Trưởng ban Tư pháp huyện Gio Linh, rồi làm Trưởng ban Tư pháp tỉnh Quảng trị. Cụ là liệt sĩ, đã hy sinh trong cuộc càn của quân Pháp vào chiến khu Ba Lòng, tháng 5/1948.
Cũng sau Cách Mạng tháng 8/1945, cụ Trương Quang Côn được cử làm Chủ nhiệm Việt Minh xã, nhưng cụ bị bệnh, từ trần vào cuối năm 1948.
III. Mai Xá Chánh chuẩn bị khởi nghĩa
III.1. Thành lập Mặt trận Việt Minh
Từ phong trào bóng đá, đến phong trào văn nghệ, rồi viết truyện ngắn và phong trào đọc sách,từ phong trào luyện tập võ nghệ, luyện tập quân sự lấy danh nghĩa là phong trào thanh niên Phan Anh… đã đi đến thành lập Mặt trận Việt Minh.
Mùa hè năm 1944, ông Lê Vụ người Long Quang, Triệu Phong là Tỉnh uỷ Quảng Trị đến gặp ba cụ (Phiên, Khoan, Côn) để phổ biến chủ trương của Đảng là phải nắm lực lượng thanh niên học sinh và nông dân tiến bộ, hình thành Mặt trận Việt Minh tại làng, thực hiện chỉ thị của Trung ương tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Ba cụ lập nhóm nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở làng có các ông: Tá, Táo, thiện, Kiểu, Huỳnh…tham gia. Cụ Phiên cùng ông Táo mở cửa hàng tạp hoá ở chợ Mai Xá để gây quỹ cho hưng hiệp hội (quỹ của những người hoạt động bí mật).
Tháng 7/1945, ông Trương Công Đồng làng Mai Xá diễn thuyết ở gò Làng về hoạt động của Việt Minh. Rồi bà Lê Thị Diệu Muội diễn thuyết ở đình làng và chợ Mai Xá, ông Trần Hữu Dực, bà Hoàng Thị ái thỉnh thoảng đến làng nắm phong trào và truyền đạt những chủ trương mới.
III.2. Khởi nghĩa cướp chính quyền ở xã và huyện
Đêm 18/8/1945, dân làng và đội tự vệ tập trung ở gò làng, do ông Trương Quang Phiên chủ trì, tổ chức cướp chính quyền xã và ra mắt Uỷ ban khởi nghĩa của làng Mai Xá.
Đêm 19/8/1945, dân Mai Xá Chánh và một số làng lân cận tập hợp tại “Lòi” làng trong đêm khuya, chuẩn bị cho việc đi cướp chính quyền ở huyện lỵ Gio Linh.
Chỉ huy quân sự là ông Tùng Lâm (tức Nguyễn Đăng Trình), người làng Vinh Quang Hạ và ông Trương Khắc Tá người làng Mai Xá, chỉ đạo chính trị Tổng An Mỹ Hạ là 3 cụ làng Mai Xá, đại diện huyện uỷ Đảng Cộng sản Đông Dương huyện Gio Linh là ông Trương Công Huỳnh, người làng Mai Xá.

lang-mai-xa-voi-lich-su-dau-tranh-bao-ve-que-huong3

Lực lượng du kích

Đêm 1/9/1945 một đoàn đại biểu dân làng Mai Xá do cụ Trương Quang Côn, Chủ nhiệm Việt Minh xã dẫn đầu, có các ông Trương Khắc Hoằng, Trương Quang Tứ, Trương Công Tiêu, Trương Văn Bột và bà Thợ Di…cùng lên thị xã Quảng Trị chào mừng ngày độc lập 2/9 và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.
Từ đó, tại sân đình làng Mai Xá, lá cờ đỏ sao vàng to rộng bay phấp phới trên cây dương liễu cao ngất, đứng từ xa đều nom thấy rõ ràng.
III.3. Những ngày đầu kháng chiến chống Pháp xâm lược
Sau Cách mạng tháng 8 chưa được vài tuần, cả nước ta phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, thù trong giặc ngoài âm mưu lật đổ chính quyền Cách mạng vừa mới thành lập.
Ngày 23/9/1945, nam Bộ đã vùng lên kháng chiến chống thực dân Pháp. Nhờ có quân Anh, ấn giúp sức, Pháp đã đánh chiếm Sài Gòn và các nơi khác ở phía Nam. ở Bắc từ vĩ tuyến 16 trở ra, hàng vạn quân Tưởng Giới Thạch âm mưu “Diệt cộng”, đòi quyền trị an thuộc về chúng. Đất nước ở vào thế “nghìn cân treo sợi tóc”. Trước ba nạn lớn: nạn đói, nạn dốt, nạn ngoại xâm. Làng Mai Xá đã có nhiều thanh niên tham gia đội quân Nam tiến như các ông Trương Công Hoành, Trương Khắc Kế….
Trong tỉnh Quảng Trị, khoảng một lữ đoàn quân Tưởng (Tàu vàng) mượn tiếng Đồng minh tước vũ khí quân Nhật đòi đóng 5 điểm trong tỉnh: Lao Bảo, Cam Lộ, Mỹ Chánh, thị xã Quảng Trị, Đông hà, nhưng ta chỉ cho đóng hai nơi: thị xã Quảng Trị và thị trấn Đông Hà.
Ngày 10/11/1945, hội nghị cán bộ toàn tỉnh họp để bàn về nhiệm vụ Cách mạng của tỉnh nhà, với khoảng 30 đại biểu từ các huyện và các ngành trong tỉnh. ở Gio Linh, đại biểu ngành công an có ông Trương Công Huỳnh, đại biểu ngành giáo giới huyện Gio Linh và Cam Lộ có ông Tô Khuyến….
Tỉnh Quảng Trị bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp từ tháng 10/1945. Tàn quân Pháp ẩn náu trong núi rừng Trung và Hạ Lào, được quân nhảy dù Pháp chi viện về lương thực, vũ khí, đạn dược do tướng Le Grève Coeur (Gờ reo cơ) chỉ huy từ phía Lào sang tiến ra Đường 9, âm mưu chiếm giữ hành lang Sà Vằn – Lao Bảo – Đông Hà – Huế – Đà Nẵng, hòng chia cắt Việt Nam thành hai.
Trước tình thế đó, tỉnh uỷ và UBND Cách mạng tỉnh đã điều một đơn vị Vệ quốc đoàn do ông Tùng Lâm chỉ huy tiến lên Đường 9 tước vũ khí quân Nhật rồi chặn đánh quân Pháp, không cho quân Pháp tiến sâu vào nội địa Quảng Trị. Làng Mai Xá đã có nhiều thanh niên tham gia đội tự vệ cảm tử lên Đường 9 giết giặc.
Xã Linh Hưng gồm các làng: Mai Xá Chánh, Mai Xá Thị, Vinh Quang Hạ, Vinh Quang Thượng, Xuân Thành đã kết hợp thực hiện hai nhiệm vụ “Kháng chiến, kiến quốc” của Trung ương giao phó.
Chính quyền Cách mạng như chiếc đũa thần, ngay từ buổi đầu đã xoá bỏ được các hủ tục như làng xóm, họ hàng xúc xiểm nhau, không còn cảnh ăn mày ăn xin, và ban đêm nhà để cửa suốt đêm mà không sợ mất cắp.
Mặt trận Việt Minh được mở rộng. Ông Trương Quang Côn làm Chủ nhiệm, do ông Côn bị bệnh xin nghỉ, khi lập Mặt trận Liên Việt, cụ Chánh Chài (họ Trương Quang) lên thay, sau đó là ông Trương Quang Phỉ đảm nhận, 1947 ông Trương Quang Khun làm chủ nhiệm Việt Minh.
UBND Cách mạng xã do ông Bùi Thuý làm Chủ tịch lâm thời, khi bầu cử Hội đồng nhân dân xã ông được bầu làm Chủ tịch chính thức, sau đó ông Trương Khắc Hoằng thay, và khi vỡ mặt trận Đường 9, ông Bùi Thản thay.
Chính quyền Cách mạng xã thi hành một loạt chính sách, đáng nhớ là việc chia lại công điền công thổ cho mọi người dân trong làng Mai Xá khiến nhân dân rất phấn khởi, nhà nhà thực hiện “ hũ gạo cứu đói”, “hũ gạo nuôi quân”, rồi các lớp bình dân học vụ được mở khắp xã, không thành lớp thì năm ba người học tại một gia đình…Học chữ trở thành phong trào quần chúng sâu, rộng.
Năm 1946 tỉnh tổ chức thi học sinh giỏi bình dân học vụ, chị Trương Thị Vấn làng Mai Xá Chánh thi đỗ nhất huyện, gửi bài thi về tỉnh chấm đỗ loại ưu “ Văn hay chữ tốt”.
Đặc biệt có việc tổ chức “tuần lễ vàng”, kêu gọi mọi người dân ủng hộ lúa, gạo, vàng… – ông Trương Văn Táo làm thơ động viên việc quyên góp như sau:

“Ai có kiềng vàng đừng đeo mà nặng cổ
Ai có bông tai đừng đeo mà nặng lỗ tai
Muốn cho nước có tương lai, đem vàng
Đổi súng, để có ngày mai huy hoàng..”

Nhiều người đã tích cực hưởng ứng nên “tuần lễ vàng” thu được kết quả tốt.
Cuộc bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ngày 6/1/1946 là một sự kiện lịch sử về chính trị và văn hoá của quê hương. Trước ngày bầu cử, Mặt trận Việt Minh tổ chức cuộc mít tinh ở gò làng Mai, huy động hàng nghìn người trong xã đến dự, ông Trương Quang Phiên thay mặt cho cấp trên về tuyên truyền giải thích ý nghĩa mục đích của cuộc bầu cử Quốc hội và giới thiệu người của tỉnh nhà ra ứng cử. Ba vị: Trần Quỳ, Đặng Thí, Lê Thế Hiếu là ba nhà Cách mạng, có công lớn trong tỉnh được giới thiệu. Ông Trương Quang Phiên giới thiệu rất tỷ mỉ về từng người. Sau cuộc mít tinh, nhân dân làng Mai Xá và toàn xã Linh Hưng rất hào hứng, coi nhiệm vụ đi bầu cử đại biểu Quốc hội là nghĩa vụ thiêng liêng của mọi người. Có một việc khó là lúc đó vẫn còn gần 80% dân mù chữ thì làm thế nào mà viết được lá phiếu, Ban tổ chức bầu cử tổ chức một đêm “diễn kịch đi bỏ phiếu” và mời bà con ra sân đình xem. Giữa sân đình đặt ba bộ bàn ghế, một bàn cho những người biết chữ, một bàn cho những người chưa biết chữ nhờ người viết giúp, một bàn để ba cái hộp con đựng ba thứ đậu: đen, trắng, xanh, với quy định mỗi thứ đậu tương ứng với tên của một ứng cử viên, ba bàn cử 3 người thư ký ngồi sẵn.
Nhờ thế, dân làng ai chưa biết chữ thì phải cố học thuộc tên của ba ứng cử: Quỳ, Thí, Hiếu…để khi bầu cử khỏi phải nhờ người khác giúp.
Trước và trong ngày bầu cử, ông Tạ Kiềng là nhân viên cổ động của Uỷ ban, đánh mõ đi rao khắp làng:

Cốc cốc cốc!!!
Xóm dưới làng trên
Đất nước đầu tiên
Đi bầu Quốc hội
Làng trên xóm dưới
Lẳng lặng mà nghe
Ngày mai, mồng 6 tháng giêng
Cấm cào chắt chắt
Cấm bắt cá cạn
Cấm mần mạn ngoài đồng
Chợ búa đừng đông
Hội đồng bỏ phiếu…
Cốc, cốc, cốc !!!

Cử tri của làng đi bỏ phiếu rất đông
Đội kịch làng Mai tiếp tục dựng các vở mới biểu diễn phục vụ nhân dân trong xã và huyện.
Đội Thiếu niên cứu quốc, đội Nhi đồng cứu vong ra tờ báo tường “Tiền phong” viết tay, báo trình bày đẹp, có nhiều bài hay, do ông Trương Công Ngoãn và Bùi Thế Tâm phụ trách.
Tết Trung thu lần đầu tiên được tổ chức ở sân đình, thu hút trẻ em trong làng ra dự và tham gia ca, hát, nhảy múa rất vui và sôi nổi. ông Trương quang Ngô mở phòng đọc báo tại cửa hàng của ông Trương Văn Táo ở chợ làng Mai, thu hút nhiều người đến đọc. Ngoài gò làng có quay “Đèn chiếu” giới thiệu cảnh đẹp đất nước Việt Nam do ông Tạ Khái điều khiển, thanh thiếu niên làng đến xem rất đông.
Chòi thông tin của xã dựng trên hai cây dương liễu cao ngất ở sân đình, tiếng sáo du dương của ông Trương Công Quyền, tiếng hát “Suối mơ” của ông Tô Khuyến, tiếng hát “Đoàn quân một lần ra đi” của ông Trương Công Tiêu, “Dòng sông hát” của chị Tân Nhân…đã làm cho dân làng lắng nghe một cách chăm chú và thoải mái.
IV. Cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp
IV.1. Từ tháng 1/1946 đến tháng 6/1948
Tháng 1 năm 1946, mặt trận Đường 9 bi? vỡ. Quân Pháp từ Lào kéo sang càn quét hầu hết các huyện Hương Hoá, Cam Lộ, Gio Linh, Triệu Phong, Hải Lăng. Chúng đóng đồn ở Lao Bảo, thị trấn cam Lộ, Đông Hà, thị trấn Gio Linh, Nhỉ Hạ, Quán Ngang, Cửa Việt…
Đầu tháng 3 năm 1947, quân Pháp từ Đông Hà, chợ Cầu, Cửa Việt… dùng cả tàu chiến mở cuộc càn quét lớn vào khu vực huyện Gio Linh. Dân làng Mai tản cư triệt để, kẻ sang Triệu Phong, người xuống chợ Hôm, Bác Vọng, Duy Phiên… Sau cuộc càn quét của giặc, nhân dân trở về an toàn.
Dưới sự lãnh đạo của chi bộ, các bộ máy của xã, thôn hoạt động trở lại bình thường, đội tự vệ vẫn luyện tập, bổ sung thêm quân. Làng Mai Xá theo lệnh động viên của cấp trên, tổ chức đợt nhập ngũ quy mô lớn: tháng 12/1947 có 27 người vào Vệ quốc đoàn, đa số được phân về các đại đội, tiểu đoàn của Trung đoàn 95.
Số người này đều tham gia chiến đấu dũng cảm. Nhiều người đã hy sinh, đa số chết nơi trận mạc, được ghi vào danh sách liệt sĩ của làng. Số còn lại nay sống rải rác khắp các miền của đất nước, chỉ có 3 người về quê sinh sống. Vì chiến tranh liên miên nên lập gia đình xa quê, đa số sống ở quê vợ.

lang-mai-xa-voi-lich-su-dau-tranh-bao-ve-que-huong4

Chiến trường Thành Cổ

Từ khi vỡ mặt trận Đường 9, làng Mai bị giặc Pháp để ý vì có phong trào chống Pháp mạnh, từ người già đến người trẻ, nhất là thanh niên đều ủng hộ Cách mạng. Người khoẻ đi bộ đội, trẻ con làm liên lạc, lớp trung niên và người già thì hăng hái sản xuất để tăng thêm của cải lúa gạo, ủng hộ bộ đội, hoặc tham gia dân công, phá đường ngăn giặc…
Đồn giặc ở Cửa Việt, cách làng trên 5 km. Sông hiếu và sông Thạch Hãn là đường thuỷ huyết mạch của giặc từ Đông hà, thị xã Quảng Trị về Cửa Việt và ngược lại, vì thế ca nô, tàu chiến của chúng qua lại luôn.
Đồn Nhỉ Hạ khét tiếng gian ác. Bọn lính lùng sục, bắt bớ, tra khảo, bắn giết không thương tiếc. Có tháng ngày nào chúng cũng về làng Mai giết người cướp của…
Thiệt hại đầu tiên về người là ngày 5 tháng 3 năm 1947, giặc Pháp tổ chức cuộc vây ráp lớn, chúng bắt người từ nhiều làng về tạm giam ở đình chợ Hôm, tra khảo rồi bắn chết rất nhiều người, trong đó có 3 anh em ruột là: Trương Hữu Mua, Trương Hữu Lít và Trương Hữu Thái của làng Mai. Ba anh em là người lương thiện, sáng dậy đang dắt trâu xuống cánh đồng “Kênh” để cày bừa gieo lúa thì bị giặc bắt giải đi
Đây là vụ khủng bố đầu tiên của giặc Pháp hòng dập tắt phong trào kháng chiến của dân làng, nhưng chúng nhầm to, chúng càng khủng bố thì dân làng Mai càng đoàn kết, càng đấu tranh mạnh hơn.
Ngày 1 tháng 8 năm 1947, bọn giặc ở đồn Nhỉ Hạ theo đường phía đông sông Đào, đến bến đò Kênh chuẩn bị qua đò để lên làng lùng sục. Trung đội tự vệ do các ông Trương Văn Tựu và Trương Khắc Hưng chỉ huy đã phân công 3 ông, trong đó có ông Trương Công Hám và ông Thỏn gài lựu đạn dưới đò ngang để đánh địch. Bọn lính bắt một số người đẩy đò xuống sông. Quả lựu đạn vì để đã lâu nên không nổ. Bọn giặc giận giữ, điên cuồng vào làng Mai Xá Chánh khủng bố trắng trợn. Đầu tiên là vào nhà ông Trương Hữu Tạo, ông đang ngồi với mấy người cháu, chúng gọi ông đứng dậy rồi lập tức bắn mấy phát vào ngực, ông phó Tạo chết ngay tại chỗ, rồi chúng tiếp tục đi sâu vào làng, bắn thêm các ông Lê Đỉnh, Trương Hữu Trị, Bùi Tiệm, Trương Hữu Hiến. Các ông bị giặc bắn đều có con em đang làm cán bộ thôn, xã hoặc tham gia du kích. Sau trận lùng, chúng bắn tin có thằng Tây điên đi theo đã bắn chết nhiều người. Chẳng qua là để lừa dân mà thôi, chứ nếu điên thì nó đã bắn cả nhà, ở đây sao chúng chọn người từng nhà mà bắn, mà chỉ bắn người lớn, những người có liên quan đến chống Pháp, người điên ai cho vào quân ngũ.
Một tối cuối hè năm 1947, Uỷ ban kháng chiến họp cán bộ chủ chốt của xã ở đình làng Mai để bàn việc chiến đấu và sản xuất, chống càn. Trung đội tự vệ được phân làm 3 tổ phục kích 3 nơi: bến đò Kênh, nhà Liễu và Quai Mọ, đó là 3 con đường giặc có thể vào làng càn quét. Nhiệm vụ 3 tổ là canh gác, đánh giặc, báo động cho Uỷ ban kháng chiến biết để giải tán cuộc họp. Khoảng 20h, mọi người ăn cơm xong còn đang xay lúa, giã gạo…. thì bỗng ở phía quai Mọ có một tiếng nổ long trời, rồi tiếp sau nhiều loạt súng trường và súng máy thay nhau nổ.
Sớm ra mới biết tin là tối qua, tổ du kích đã phục kích bọn Tây từ Nhỉ Hạ kéo vào làng. Ông Trương Công Hám đã nhằm vào giữa đội ngũ ném quả bom bay, bom nổ làm chết và bị thương một số thằng, vì thế chúng phải tháo lui không vào làng nữa.
Mặc dù giặc càn quét liên tục nhưng dân làng Mai không chùn bước. Trung đội tự vệ luôn luyện tập và sẵn sàng phục kích bọn giặc. Một hôm, trung đội du kích đóng quân ở xóm đồng Sau (ở nhà ông Kính và ông Đạo). Phía sau nhà bao bọc bởi nhiều bụi tre già như bức thành vững chắc. Đội tự vệ vẫn cho người canh gác cẩn thận. Nhưng không may là du kích gác chỉ chú ý nhiều đến phía xóm trên, không chú ý phía làng Mai Xá Thị. Giặc đã đi từ Nhỉ Hạ vào Mai Thị, rồi từ phía mai thị dọc theo đường Bạn tấn công bất ngờ đội tự vệ. Vì lực lượng không cân sức, ta chỉ có lựu đạn, vài khẩu súng trường còn giặc thì cả trung đội được trang bị vũ khí đầy đủ, bên ta bị động nên phải rút chạy, nhưng hàng tre lại như luỹ chắn, khiến cho đội tự vệ khó thoát ra nhanh được, vì thế bị tổn thất nặng, nhiều người bị thương. Ông Trương Công Tự – chính trị viên vừa chạy vừa bắn trả, nhưng lực lượng quá mỏng, ông chạy được hơn 1 km đến cánh đồng không cây cối thì bị chúng bắn gãy chân và một viên đạn khác vào ngực nên chết ngay gần nhà ông Lê Lự.
Dân làng Mai rất căm ghét bọn lính gian ác khét tiếng đóng ở làng Nhỉ Hạ. Chúng bắt người vô tội khắp các vùng về tra tấn, bắn giết, thủ tiêu.
Làng Mai đã có nhiều người bỏ xác ở đó. Không chỉ có ông Bùi Cao một tình báo gan dạ, thông minh không may bị chúng bắt, tra tấn rồi thủ tiêu mà ông Trương Công Ngô (con ông Cửu Đại) đang cày ở cánh đồng Sau, cũng bị chúng bắt về giam và bắn chết, rồi ông Trương Hữu Que (cha ông Sáo) là người nông dân chất phác, hiền lành, chăm lo làm ruộng, cũng bị chúng bắt về Nhỉ Hạ, tra tấn ông rất dã man. Chúng trói cả hai chân, hai tay để lâu máu tụ sưng tấy, sau bị hoại thư. Khi chúng thả tù, gia đình phải đến khiêng ông về. Làng nước ai nhìn thấy cũng đau quằn quại, thương xót ông và căm thù bọn giặc, về nhà được một thời gian thì ông mất.
IV.2. Từ tháng 6/1948 đến cuối năm 1954
Tháng 6/1948, quân giặc về đóng đồn trong thôn, mấy tháng đầu chỉ có bọn bảo an người Việt. Chúng đóng tại nhà ông Trương Công Hy. Nhà này có khu đất cao ráo, nhà xây tường gạch, nhiều gian, có vườn rộng. Bọn giặc bắt dân làng đào hào, đắp luỹ, rào đồn bằng tre và dây thép gai. Đồn giặc phía Đông giáp nhà Cửu Phú…, phía Tây giáp nhà thầy Nhàn, phía nam giáp nhà Cửu Diêu, phía bắc giáp nhà Xạ Lạn.
Bon giặc chọn làng Mai Xá để đóng đồn nhằm mấy mục đích chính:
– Mai Xá là trung tâm đồng bằng của huyện Gio Linh và Triệu Phong, có đường giao thông thủy bộ thuận tiện.
– Mai Xá là vùng đất Cách mạng, phong trào chống Pháp lên cao.
– Mai Xá là làng giàu nhất, đông dân nhất của huyện Gio Linh.
Đóng đồn ở Mai Xá là cắt được nguồn tiếp tế lương thực, nguồn bổ sung cán bộ, bộ đội cho tiền tuyến, cán bộ cho tỉnh, huyện. Dập tắt ý chí chiến đấu của Mai Xá thì dập tắt được phong trào chống Pháp của huyện Gio Linh.
Dưới sự lãnh đạo của Chi bộ Đảng, của Uỷ ban kháng chiến xã Linh Hưng, dân làng đã tẩy chay việc giặc đóng đồn ở làng bằng cách ban ngày cho thanh niên lánh sang các làng bên, không đi phu làm đồn cho giặc, chúng phải bắt các cụ già đi làm, và đưa phu, lính từ các đồn khác về xây đồn. Vì thế, việc xây đồn kéo dài hàng tháng mới xong. Xây đồn xong, chúng lập chính quyền tay sai: cử lý trưởng, hương mục để đàn áp, thu thuế, bắt người đi lính…., song chính quyền do chúng lập nên cũng chỉ hoạt dộng “ấm ớ hội tề”, ban ngày giả đò làm cho chúng nhưng ban đêm thì lại phục vụ cho Cách mạng.
Bọn lính trong đồn chỉ hoạt động ban ngày. Chúng ra khỏi đồn không xa, khi nào muốn lùng sục lớn thì phải có lính ở các đồn Nhỉ Hạ, Chợ Cầu… phối hợp.
Ban đêm chúng “co vòi” trong đồn, vì tối nào du kích, cán bộ cũng về hoạt động trong làng. ở cửa đồn, du kích ta thường gài mìn hay phục kích, nếu giặc ra khỏi đồn thì bị mìn nổ hoặc du kích bắn tỉa. Vì thế ban đêm giặc không ra khỏi đồn, quyền chủ động thuộc về cán bộ, du kích của làng.
Những ngày đầu giặc về đóng trong làng, anh em thanh niên và trung niên ban ngày đi sơ tán hết, ban đêm lại trở về làng hoạt động với dân. Học sinh thiếu niên do còn nhỏ, chưa phải diện quản thúc, bắt đi lính, nên Đội thiếu niên dễ hoạt động, cả ban đêm lẫn ban ngày. Các ông Bùi Hữu Dực (Thế Tâm), Trương Hữu Dược (Dinh) là Thanh niên cứu quốc phụ trách, chỉ đạo hoạt động của Đội thiếu niên. Nội dung hoạt động là làm tình báo để nắm quy luật hoạt động của binh lính, tình hình quân lính về số lượng, quê ở vùng nào, cách bố trí hầm hào, chỗ ở, chỗ để kho vũ khí, nhà giam, cách canh phòng của giặc, hàng rào của đồn có mấy lớp, cách đặt mìn, ụ súng ra sao, để báo cáo với du kích. Đội thiếu niên còn nhận nhiệm vụ rải truyền đơn ở nơi đông người, gần đồn cho lính mới đọc được. Không chỉ thông minh, mà còn gan dạ mới làm được những việc này, dù lúc này chúng chưa chú ý đến việc làm của trẻ con. Trường học của làng bị đóng cửa, nên đa số học sinh đi chăn trâu, chăn bò. Mùa hè thường rủ nhau cho trâu bò sang cánh đồng Soi ăn cỏ. Trâu bò phải đi qua đình làng, chợ, đến sông Hiếu mới qua được cánh đồng.
Giặc Pháp và lính nguỵ ban ngày hoạt động táo tợn, chúng bắt người cướp của ức hiếp dân làng, trả thù nhiều gia đình có người tham gia kháng chiến. Chúng bắt thanh niên đi lính, bắt đóng thuế khiến người dân lúc đầu có hoang mang lo sợ. Thế là cấp trên đưa ra chủ trương phải mở đợt tuyên truyền trong dân, làm cho dân tin vào Cách mạng, tin vào cuộc trường kỳ kháng chiến. Mở đầu là tổ chức rải truyền đơn. Đội thiếu niên làng được phân công nhiệm vụ này. Các ông phụ trách tối về làng họp với Đội thiếu nhi giao trách nhiệm, phân công và vạch kế hoạch tỷ mỷ. Đội chăn trâu bò phân công nhau thật cụ thể. Tạ Lan nhận nhiệm vụ dán truyền đơn ở đình và rải ở chợ, các bạn khác đi trước và sau cảnh giác, thăm dò tình hình. Lan theo các đàn trâu bò rồi ghé vào cổng đình làng. Sắp sửa đến đình thì tách khỏi đàn trâu bò nhanh như sóc để dán truyền đơn vào cổng đình, rồi rải ra chợ. Làm nhiệm vụ xong, Lan lại nhập vào hội chăn trâu, bò đến sau và cả bọn leo lên lưng trâu, cho trâu lội qua sông một cách an toàn.
Khoảng 8h30’ chợ làng đông người, dân làng đã thấy truyền đơn dán ở cổng đình, khắp chợ, mọi người nửa mừng, nửa lo. Cả chợ huyên náo lên, có người bỏ về, nhưng nhiều người trấn tĩnh lại, họ mua bán bình thường. Bọn lính đồn nghe tin, cho quân lính bao vây chợ và lục soát truy cứu, nhưng vô ích, làm sao mà chúng biết được những chú bé gan dạ làng Mai làm chuyện đó.
Qua các lớp dạy bình dân học vụ ban đêm, thầy giáo cũng tuyên truyền chính sách của Đảng, Chính phủ một cách khéo léo. Vì thế khi giặc đóng đồn trong thôn, cán bộ bình dân học vụ vẫn tìm cách mở các lớp học vào ban đêm. Một lớp học không đông học sinh lắm, chỉ độ 7 – 8 người. Xóm trên, xóm dưới… đều có lớp. Trong lớp có em còn trẻ, nhưng cũng có nhiều người tuổi đã cao – bốn, năm mươi tuổi. ở lớp học chữ là chủ yếu, học để biết đọc, biết viết, biết tính toán.
Cũng vì làng Mai là đất học, nên sau Cách mạng tháng Tám, phong trào học phổ thông, bình dân học vụ cũng được nâng cao. những đêm trăng sáng hoặc các tối mưa to, gió lớn, mọi người đều đến lớp đầy đủ, học rất tiến bộ. Lớp học cũng là nơi tuyên truyền chính sách, phổ biến những việc làm của thôn, của đội tự vệ, phổ biến kiến thức sản xuất, cách đánh giặc, cách binh vận… Tóm lại, ở lớp học bình dân học vụ là nơi tập hợp dân, là nơi bàn việc, là nơi ổn định tư tưởng cho dân nhanh và hiệu quả nhất. Nhờ có học tập nên những cô thôn nữ, những chàng thanh niên trai trẻ làng Mai đã trở thành những người lính Vệ quốc đoàn tài ba, gan dạ, những cô cậu du kích dũng cảm làm cho quân thù khiếp sợ.
Để uy hiếp tinh thần bọn hương vệ, phải dùng binh vận để chia rẽ bọn địch đóng trong đồn, ngoài việc bao vây về ban đêm, Uỷ ban kháng chiến tổ chức các cuộc tuyên truyền vào đồn địch, do Ban tuyên truyền thông tin của xã phối hợp với trung đội tự vệ do các ông Bình Tựu và Trương Khắc Hưng chỉ huy (xã đội trưởng và xã đội phó).
Vào lúc hoàng hôn, một số dân làng được giao việc quan sát bọn địch, xem chúng có phục kích ngoài đồn hay không, tình hình trong đồn thế nào, rồi báo cho đội tự vệ vào làng. Từ Đò Kênh, các tiểu đội tự vệ đã sẵn sàng vũ khí đi theo các bờ tre để tiến sát phía Đông đồn giặc. Từ cửa Lòi, một tiểu đội men theo đường kiệt rồi vượt qua đường, tiến sát nhà ông Hịm, Cửu Đỉnh bao vây đồn về phía Tây – Bắc. Đội du kích chiếm lĩnh các vị trí quan trọng bao vây đồn địch, khi có lệnh của đội tuyên truyền thì 5 – 6 người chia ra làm 2 cụm. Trưởng ban tuyên truyền Trương Hữu Tần và ông Trương Khắc Trại làm nhiệm vụ đọc bản tin. Tổ tuyên truyền còn phải đánh lạc hướng lính đồn, để không bị chúng bắn súng tiêu diệt. Đội tuyên truyền bắc loa lên cây cao, mắc dây loa xa mươi mét. Người nói phải ẩn vào bức tường cao, hoặc nấp dưới bờ ao.
Tiếng loa vang đều, khi thì đọc bản tin, khi đọc bản cáo trạng đối với bọn lính, khi lại hát cải lương, ca vọng cổ, hát các bài ca Cách mạng.
Những đêm có đội tuyên truyền về, không khí làng Mai nhộn nhịp hẳn lên, ai cũng lắng tai nghe, ai cũng muốn nhìn thấy những đứa con của mình đang thực hiện nhiệm vụ một cách thông minh và dũng cảm. Mỗi lần có tiếng loa phóng thanh cất lên là quân thù khiếp sợ, khiến chúng chia rẽ nội bộ, mất lòng tin. Mỗi lần tiếng loa vang lên cũng là một lần củng cố thêm lòng tin của dân làng, đội tự vệ, làm cho mọi người đồng tâm hiệp lực hơn, bởi lẽ biết nếu có hy sinh là vì sự nghiệp giải phóng dân tộc và quê hương.
Mặc dầu ban đêm làng Mai chủ động bao vây đồn giặc, họp dân, dạy bình dân học vụ, bàn cách chiến đấu, sản xuất, bảo vệ hoa màu, tài sản của dân nhưng ban ngày thì bọn giặc vẫn còn hung hăng, chúng cho quân lùng bắt thanh niên đi lính, bắt số trung niên đến rào đồn, đào giao thông hào, và vẫn cho quân đi các xóm rình bắt người, cướp của. Các buổi chợ, bọn lính thường ra cướp của, trêu gái và rình bắt cán bộ.
Đội tự vệ cho người trinh sát thật tỉ mỉ một hai tuần… để nắm được sự hoạt động của bọn lính đồn khi ra chợ như chúng thường có mấy thằng, đi những đường nào, hay tập trung các quán nào,… Sau khi nắm được tình hình, xã đội trưởng và xã đội phó vạch kế hoạch tác chiến cụ thể. Nếu đánh ở chợ là đánh ban ngày thì rất nguy hiểm, nếu bị lộ thì thương vong cao, làm mất lòng dân. Đội tự vệ lên phương án tối ưu, cử một số nữ du kích trà trộn ở chợ, trực tiếp đánh bọn dân vệ ở chợ. Số nam giới chia thành 2 tổ, một tổ có hoả lực mạnh phục kích tại nhà Liễu, phía trên Dinh Ông – vùng này cây cối tốt, có nhiều mồ mả nên ẩn nấp tốt, phía bờ sông là Hà Côộc cây cối dày đặc, bùn lầy khó đi, rất tiện lợi cho du kích hoạt động; tổ còn lại phục kích dọc đường Kiệt, để hỗ trợ cho du kích khi rút lui.

lang-mai-xa-voi-lich-su-dau-tranh-bao-ve-que-huong

Bà mẹ Gio Linh nuôi con đánh giặc

9h sáng bọn dân vệ đã ra chợ. Theo thường lệ, một số vào quán ăn nhậu, uống rượu, một nhóm đi chọc ghẹo con gái. Các nữ du kích liền tấn công bất ngờ khiến cho mấy thằng lính bị thương, số còn lại chạy về đồn. Nhóm nữ du kích rút chạy về phía nhà Liễu, bọn giặc huy động lính đuổi theo và bắn xối xả. Bất ngờ, chúng đụng phải tổ phục kích bắn chặn. Bị chết mấy thằng nên hoảng hốt rút lui, bọn lính đồn được một phen hú vía. Dân làng phấn khởi, đội tự vệ vui mừng và tự tin hơn.
Sau trận đó, bọn lính đồn hoảng sợ nên ít khi ra khỏi đồn, bọn bảo an càng hoang mang. Sợ mất đồn Mai Xá, chúng tăng cường thêm lính Pháp và lính lê dương. Chúng cho lính Pháp và lê dương đóng tại đồn chính, nhà ông Thông Hy và cho bọn bảo an dân vệ đóng ở nhà ông Khoá Thẩm. Hai đồn có chung hàng rào thép gai, có giao thông hào, có luỹ xây bằng đất cao quá đầu người để bảo vệ đồn.

Gồm thôn Vinh Quang Thượng – Hạ, Làm Xuân Đông Tây, Mai Xá Chánh, Mai Xá Thị, Hoàng Hà, chợ Hôm, Bác Vọng.

Lính đồn được bổ sung quân, trang bị vũ khí đầy đủ hơn, nên chúng hoạt động, lùng bắt ráo riết hơn. Cán bộ, đội tự vệ của xã, của làng ban ngày thường đi sơ tán ở các thôn Vinh Quang Thượng ,Vinh Quang Hạ, Lâm Xuân Đông, Lâm Xuân Tây, chợ Hôm, Bác Vọng hoặc Xuân Thành, ban đêm lại về làng hoạt động, nắm dân.
Ngày 16 tháng 8 năm 1948 tiết trời nóng bức, gió Lào đã bắt đầu thổi. Gần Đôộng Hao Hao – một khu đất toàn cát, không có cây cao, toàn cây chổi, cây cỏ lươn “chó chạy không bén lông”, có một xóm nhỏ cũng thuộc làng Mai, được gọi là xóm Đôộng nhưng chỉ có ba bốn nhà. Nhà ở trên triền khe nhỏ, quanh năm có nước mạch ngầm, vì thế đủ nước cho người, súc vật sinh sống. Gần 12h trưa, Uỷ ban kháng chiến xã triệu tập cuộc họp trên 20 người tại nhà bà Rạm Tượng, dưới sự điều khiển của ông Bùi Xuân Ban, lúc ấy là Chủ tịch xã. Ông Ban được ông Trương Quang Phiên – Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến tỉnh Quảng trị trang bị cho một khẩu súng lục để tuỳ thân và một ống nhòm. Trước khi vào họp, ông Ban đưa súng lục cho ông Nguyễn Văn Kỳ là xã đội trưởng và đưa ống nhòm cho một ông tự vệ dùng để canh gác. Cuộc họp chưa xong thì có tiếng báo động. Bọn giặc đã bao vây địa điểm họp mất rồi. Địch đến quá gần khiến ta không trở tay kịp, song bọn địch cũng không thể nổ súng, vì trước sau đều có lính của chúng, nếu bắn thì lính của chúng cũng phải ăn đạn, thế là hai bên xáp lá cà ôm vật nhau, song vì ta ở thế bị động, lại ít người nên phải chạy thoát thân, chạy vào lòi Vinh Quang và về xóm lòi của làng. Hơn 20 người thoát chết, nhưng giặc bắt được ông Nguyễn Văn Kỳ, người Mai Xá thị và ông Nguyễn Phi, người xóm Kênh. Chúng đánh đập hai ông rất dã man, nhưng hai ông cương quyết không khai điều gì. Chúng trói hai ông và đưa về đồn Nhỉ Hạ. Sáng hôm sau chúng chặt đầu, bỏ xác lại đồn và đưa hai chiếc đầu về bêu ở làng Mai Xá.
Khoảng 10h, chúng dùng hai cọc tre đã vót nhọn chọc vào cổ và đem hai cọc đóng ngoài chợ làng Mai, nơi mọi người hay đi qua lại. Hành động của chúng thật man rợ, chúng còn dùng dầu chải tóc chải hai cái đầu láng mượt rồi phơi giữa nắng hơn một ngày. Đến chiều nước thủy triều lên, ngập sát đầu hai ông. Mặc dầu chúng rình mò, canh gác nhưng tối hôm đó gia đình và dân quân đã về lấy đầu hai ông, bỏ vào hai thúng đựng gạo đưa đi mai táng.
Cuối tháng 8 năm 1948, chi bộ Đảng cộng sản và Uỷ ban kháng chiến hành chánh xã triệu tập một cuộc họp đủ thành phần: Bí thư, phó Bí thư, chủ tịch, phó chủ tịch xã, cán bộ xã, xã đội trưởng, xã đội phó… để truyền đạt một số chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ, duy trì việc chống Pháp càn quét, khủng bố, bảo vệ dân, bảo vệ Đảng. Một buổi tối trước ngày họp, cán bộ đã tập trung ở nhà bà Bướm, cơ sở của Uỷ ban kháng chiến tại xóm Đồng, thôn Vinh Quang Thượng. Để an toàn, mọi người ngủ phân tán trong nhà dân các xóm. Ông Trương Công Địch, Bí thư chi bộ xã về ở xóm Rú. Ông Nguyễn Đăng Tập, Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến xã cùng ông Trương Văn Lập, liên lạc uỷ ban và ông Trương Công Hám du kích của xã, bảo vệ uỷ ban ra xóm Đề, thôn Vinh Quang Thượng ngủ.
Sáng hôm sau, lúc 5h thì có báo động giặc về càn. Ông Tập, chủ tịch xã và ông Trương Văn Lập cùng xuống hầm bí mật, ông Trương Công Hám xuống hầm khác cách nhau không xa. Đến 7h thì bọn địch đóng ở các đồn Mai Xá, Nhỉ Hạ, Gia Độ, Đông Hà chợ Cầu kéo về đã siết chặt vòng vây bao quanh thôn Vinh Quang Thượng. Chúng lùng sục, xăm hầm bí mật. Tiếng súng nổ, tiếng dân kêu khóc… náo động khắp các xóm.
Đến 8h, một tốp giặc đến xóm Đề, lùng sục rất ráo riết, hình như có gián điệp đã báo trước. Chúng xăm hầm bí mật rất kỹ. Chúng đốt cây rơm và nhà ông Tư Thu (nhà mà ông Tập đang ẩn dưới hầm bí mật), ông Trương Công Hám nhìn thấy nhà cháy, khói lửa mịt mù, một số tài liệu bay tứ tung, mạng sống của ông chủ tịch bị đe doạ. ông Hám nghĩ có thể ông chủ tịch bị bắt hoặc bị bắn chết thì thiệt hại cho xã, cho dân vô cùng, nên ông liền nhảy lên hầm, ném lựu đạn về phía giặc và chạy về phía khác để đánh lạc hướng quân thù. Bọn giặc phần thì chết và bị thương do lựu đạn nổ, phần thì đuổi theo ông Hám nên không tìm hầm bí mật nữa. Ông Hám chỉ chạy được một đoạn thì trúng đạn và chết ngay tại chỗ.
Khoảng 10h giặc rút lui, ông Tập, chủ tịch xã và ông Trương Văn Lập ra khỏi hầm. Dân làng kéo đến nhà ông Tư Thu nghĩ là để lo tang lễ cho chủ tịch xã nhưng ông Tập còn sống, dân làng rất vui vì chủ tịch còn thì phong trào chống Pháp vẫn còn, Đảng vẫn còn.
Sau trận càn, Bí thư chi bộ và chủ tịch xã đều đánh giá là ông Trương Công Hám đã chết anh hùng, hy sinh tính mạng để bảo vệ Đảng, bảo vệ phong trào kháng chiến chống Pháp. Trương Công Hám vốn là con một nông dân nghèo, từ nhỏ đi ở chăn trâu, bò cho nhà giàu. Trong thời kỳ chống Pháp, ông đã lập công lớn trong trận gài lựu đạn ở bến đồn Kênh, ở Quai Mọ, ở nhà Liểu và đây là trận liều mình cứu Chủ tịch xã, cứu phong trào Cách mạng. Ông là một tự vệ gan dạ, thông minh, dũng cảm, xứng đáng là anh hùng của lực lượng vũ trang.
Tháng 10/1948, chúng tổ chức một cuộc càn quét lớn vào xã Linh Hà [4]. Vào lúc nửa đêm, chúng cho xe chở lính từ Quảng Trị – Đông Hà ra huyện lỵ Gio Linh, rồi kéo về làng Mai Xá. Một cánh quân từ Nhỉ Hạ theo bờ sông đào kéo vào, một cánh khác theo đường thủy đi từ Cửa Việt kéo lên vây chặt các xóm của làng Mai. Vào 6h, lính trong đồn chia quân lùng sục các nhà, hầm hào, luỹ tre để tìm bắt cán bộ và du kích. Được tình báo ta đưa tin, bộ đội địa phương và du kích đã rút lui an toàn, chỉ để một số du kích và cán bộ ở lại nắm tình hình và động viên nhân dân. Không may là ông Trương Hữu Tần, ông Bính Thí, Bùi Luyện và một số khác chạy không kịp bị chúng phục kích bắt được: ông Trương Hữu Tần lúc đó là đảng viên Đảng Cộng Sản, Trưởng ban thông tin tuyên truyền của xã. Chúng giam các ông ở đồn Mai Xá vài hôm, sau chuyển ra giam ở đồn chợ Cầu. Chợ Cầu là một đồn lớn, cả lính Tây, lính lê dương, bảo an dân vệ có đến hàng trăm tên. Đồn đóng tại đình làng Hà Thượng. Đây là ngôi đình cổ, khang trang rộng rãi. Sau đình là bãi đất rộng có nhiều cây dương liễu, có đường ô tô liên huyện, đường số 1A thuận lợi cho việc chuyển quân từ các đồn khác về.
Để làm nhụt chí của du kích ta, chia rẽ dân và quân, giặc Pháp chủ trương khi một lính Pháp hoặc nguỵ bị giết thì chúng bắn một người tù. Song ít khi bắn công khai, chúng thường tổ chức thủ tiêu tù vào ban đêm. Khoảng một – hai giờ sáng chúng bắt người tù rời khỏi buồng giam, đưa lên xe bịt kín rồi chở đi bắn, thường là ở hai nơi: dọc đường 1A, nơi có những bãi đất hoang, nhiều cây dại mọc, hoặc cho xe qua cầu bến Sanh sang bãi cát trắng ven bờ rồi bắn thủ tiêu người tù.
Ông Trương Hữu Tần và một số cán bộ mà chúng cho là những người chống Pháp đến cùng bị giam riêng ở các phòng đặc biệt, có lính gác suốt ngày đêm. Chúng tra tấn rất dã man, dùng roi bằng đuôi cá đuối, dùi cui, máy quay điện làm cho tù nhân ngất đi sống lại nhiều lần. Nhưng vì chả khai thác được gì nên càng tức giận. Một tuần chúng tra tấn nhiều lần và không cho người nhà đến thăm. Dù ngày bị tra tấn nhưng đêm về ông Tần và một số tù nhân vẫn ca cải lương, hát vọng cổ. Khi tiếng hát của ông vang lên, cả nhà tù im lặng lắng nghe. Chúng giam ông Tần ở nhà tù Gio Linh khoảng ba tháng. Trung tuần tháng 12 âm lịch năm 1948, người nhà đến thăm thì không gặp được ông nữa. Một tuần sau, người nhà đến thăm cũng không được gặp, cũng không dò hỏi được tin tức gì. Gia đình chỉ biết là chúng đã đem đi thủ tiêu. Đợt thủ tiêu nhiều người này làng Mai Xá có 5 người, trong đó có ông Trương Hữu Tần, các ông Binh Thí, Bùi Luyện… Gia đình đã thuê thăm dò nơi người tù bị thủ tiêu nhưng vẫn không biết được…. Cho đến nay hơn năm mươi năm rồi, người làng và gia đình vẫn chưa tìm được hài cốt của các liệt sĩ nói trên.
Giặc Pháp tiếp tục tăng quân ở đồn Mai Xá, hòng tiêu diệt đội tự vệ, hạn chế hoạt động của cán bộ làng, xã nhưng chúng đã nhầm. Được sự hỗ trợ của trung đoàn chủ lực 95, hai đơn vị chủ lực C310 và C348 đã về hoạt động ở xã, hỗ trợ cho trung đội tự vệ hoạt động tốt hơn. Quân địch vẫn ở thế bị bao vây, ban đêm chúng không dám ra khỏi đồn, ban ngày dân vẫn ra đồng cày, cấy, gặt hái.
Nhờ thuận trời nên các cánh đồng bội thu. Làng Mai Xá có nhiều cánh đồng rộng, màu mỡ, nên lúa, ngô khoai sắn rất tốt. Lúa gặt về dân tranh thủ phơi khô, đào hầm cất giấu. Đêm về, cán bộ của Uỷ ban kháng chiến xã, tự vệ, bộ đội giúp dân đem thóc gạo đi đóng thuế, tổ chức dân công chuyển thóc đến những địa điểm an toàn.
Người dân đóng thuế tự nguyện, hăng hái vượt qua những vùng địch kiểm soát mà không hề run sợ. Phong trào “bữa đồng tâm”, “ngày đồng tâm”, “mùa đông chiến sĩ” phong trào kết nghĩa quân và dân, nhiều bà mẹ nhận con nuôi, chăm sóc chiến sĩ bị thương, ủng hộ hàng trăm hũ gạo nuôi quân, hàng nghìn mét vải để bộ đội may quần áo.
Khoảng 14h, một chiều mùa đông năm 1948, dân làng nghe tiếng súng nổ ở phía bến đò Kênh, có cả tiếng súng trường, súng máy, lựu đạn lúc, đầu thưa thớt nhưng về sau dồn dập hơn. Thì ra hôm đó bọn lính ở đồn Mai Xá xuống chợ Hôm bị bộ đội và du kích phục ở bến đò Kênh. Trận đó bọn giặc bị bất ngờ, chạy tán loạn nên thiệt hại nặng, nhiều lính bị chết.
Lính ở đồn Mai Xá sợ quân ta bao vây đánh đồn nên đã xin cứu viện. Giặc Pháp đã huy động một lực lượng khá lớn, nào bộ binh, cơ giới… bao vây toàn xã hòng tiêu diệt quân ta. Song cuộc bao vây của chúng bị thất bại, bộ đội chủ lực, địa phương, du kích… đã rút từ tối hôm trước. Chúng tức giận, dọc đường gặp người nào bắt người ấy, cả cụ già phụ nữ đem về giam ở đồn Mai Xá, nhiều người bị tra hỏi dã man, nhiều chị em phụ nữ bị hãm hiếp. Những năm giặc Pháp đóng đồn, làng cũng bị tổn thất nhiều về người và của cải. Chúng bắt được một số thanh niên vào lính, lập hội tề, bắt bớ đàn áp nhiều gia đình có con đi kháng chiến chống Pháp. Vì thế Uỷ ban kháng chiến xã đã đề nghị lên Uỷ ban kháng chiến huyện cho một số con em cán bộ thoát ly ra vùng tự do Hà Tĩnh, Nghệ An. Thế là từ những năm 1949 đến năm 1954, nhiều con em làng Mai được ra học ở miền Bắc.

Ông Trương Công Địch làm Bí thư Đảng uỷ xã, ông Nguyễn Đăng Tập làng Vinh Quang Hạ làm chủ tịch xã, ông Trương Văn Tựu làm xã đội trưởng, ông Trương Khắc Hưng làm xã đội phó. Địa điểm của Uỷ ban luôn thay đổi, khi ở Lâm Xuân, khi ở Bác Vọng, khi ở Vinh Quang Thượng hay Hạ, xã Linh Hưng kéo dài từ Bác Vọng lên đến Kỳ Trúc, dài hơn 6 -7 km nên phạm vi hoạt động của xã rất rộng, cũng vì thế tránh được nhiều tổn thất khi bọn giặc bao vây.
Nhà ở gần đồn Mai Xá, chị Trương Thị Thí (con ông chánh Chài), vợ ông Lê Đăng Minh, là cán bộ phụ nữ thường đi vận động bà con đóng góp tiền bạc, đóng góp thuốc men… giúp tự vệ, quân đội. Chị là người cán bộ gan dạ, được dân tin yêu, vì thế chị vận động ở gia đình nào thì mọi người dân sẵn sàng ủng hộ. Một đêm mùa đông, trời rét, gió heo may từng đợt lạnh buốt, dưới ánh trăng lờ mờ, chị đang đi vận động thì lính đồn phát hiện và bắn chị. Chị bị thương nặng rồi chết. Dân làng đều thương khóc chị.
Một chiều thu ngày 23 tháng 2 năm 1949, nước sông Cửa Việt vẫn trong xanh, gió biển thổi về làm không khí mát lạnh. Trước văn phòng Uỷ ban kháng chiến xã Linh Hưng là bãi cát trắng. Nhiều cây phi lao tốt tươi, người đi lại tấp nập. Kẻ đi chợ, người đi đánh cá dọc bờ sông. Trên sông, một số thuyền bè xuôi ngược. Chiếc từ Cửa Việt lên, chiếc từ Đông Hà về Cửa Việt, cách trụ sở Uỷ ban kháng chiến theo đường chim bay khoảng 1 km. Đội tự vệ cử người canh gác cẩn thận, nhưng thường chỉ để ý đến bọn giặc từ Cửa Việt đi lên, ít chú ý đến phía từ Đông Hà về. Hôm đó, bọn lính đi thuyền từ Cửa Việt về phía bên kia sông, rồi ngược trở lại nên người canh gác không chú ý. Khi thuyền chúng ghé vào bờ, chỉ còn cách trụ sở của Uỷ ban kháng chiến độ 300m mới phát hiện được rồi báo động cho mọi người. Cán bộ Uỷ ban kháng chiến chạy tản ra phía sau động cát, nhưng phải trèo lên động cát cao nên không thể thoát thân nhanh được. Vừa tầm súng của giặc, chúng bắn xối xả vào đoàn người đang chạy trốn. Rất may là nhiều người vượt qua được động cát, chỉ có ông Tạ Diêm, thư ký Uỷ ban kháng chiến và ông Trương Văn Thiên, cán bộ văn phòng bị bắn chết. Trận tập kích bất ngờ của giặc đã làm Uỷ ban kháng chiến xã tổn thất về người và tài sản.
Giặc chiếm đóng trong làng nhưng các lớp học vẫn duy trì. Ngày học 2 buổi tại nhà ông Trương Quang Phiên, vì gia đình ông đang ở chiến khu Ba Lòng. Ba gian nhà ngói rộng rãi, có sân cho học sinh chơi khi hết tiết học. Nhà có vườn rộng, mùa hè trồng khoai, ngô, mùa đông cấy lúa. Vì đất tốt nên lúa luôn ngập đầu người. Từ lớp học đến đồn khoảng 150m. Bọn giặc luôn quản lớp học, nơi chúng lợi dụng dạy những bài học nói xấu chế độ ta… Đồn cử một thằng làm ở phòng nhì tên là giáo Nghi dạy một số môn. Thằng ác ôn này thường dò la, tra xét tù nhân rất dã man, bắt bớ nhiều gia đình có con đi kháng chiến. Vì thế Uỷ ban kháng chiến đã quyết định phải trừ khử thằng phòng nhì đó. Giáo Nghi xảo quyệt, luôn cảnh giác cho lính đi theo.
Một chiều mùa đông năm 1953, mưa phùn lất phất, trời mờ tối, gió thổi mạnh. Hai anh du kích “mang tơi” lách vào nương lúa như hai người làm vườn. Họ từ từ đến sau lớp học. Thấy động, giáo Nghi nhảy qua cửa sổ chạy thoát. Ông giáo Đản sợ quá định chạy vào đồn thị bị trúng đạn của du kích. Phục kích xong, đội tự vệ trở về an toàn, bọn lính đồn cũng không dám đuổi theo. Giáo Nghi thoát chết, nhưng từ đó hắn không dám hung hăng nữa, dân làng đỡ nghẹt thở, tin tưởng vào bên ta hơn.
Đầu năm 1952, thế của ta và địch đã thay đổi, Bình Trị Thiên đã thành lập sư đoàn 325, có 3 trung đoàn. Trung đoàn 101 hoạt động ở Thừa Thiên, trung đoàn 95 hoạt động ở Quảng Trị, trung đoàn 118 hoạt động ở Quảng Bình. Bộ đội chủ lực đã đánh nhiều trận làm cho quân Pháp hoảng sợ, như trận Thanh Hương ở Thừa Thiên, trận Dốc Miếu, đường 73, 74 ở Quảng Trị, trận Ba Đồn ở Quảng Bình. ở Quảng Trị có đại đội ông Một đánh đâu được đó, lính Pháp và quân nguỵ nghe tiếng đại đội ông Một thì vác súng chạy ngay. Bài hát Bà mẹ Gio Linh của nhạc sĩ Phạm Duy vang lên: “Mẹ già cuốc đất trồng khoai, nuôi con đánh giặc đêm ngày cho dù áo rách sờn vai, cơm ăn bát vơi bát đầy, nhà thì nó đốt còn đâu, khuyên nhau báo thù đêm ngày”… dân làng Mai, quân dân Bình Trị Thiên, ai ai cũng thuộc, bởi nó đã khắc sâu chí căm thù của làng Mai. Coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, quân dân làng Mai lại càng đoàn kết hơn. Bộ đội bảo vệ cho dân làng gặt hái, sản xuất. Dân làng lo tiếp tế gạo, cơm, thuốc men cứu thương cho bộ đội, tình nghĩa quân dân như cá với nước. Đêm về, dân làng đi dân công tiếp tế lương thực lên chiến khu, đi phá đường số 1A từ Đông Hà ra Dốc Miếu. Dân làng đã tập trung ở Lòi, lần theo dọc Lòi Vinh Quang Thượng và Hạ, lên Hà Thanh để phá đường.
Cuối năm 1953 đầu năm 1954, quân ta đánh mạnh khắp các chiến trường Trung – Nam – Bắc. Giặc Pháp ở Điện Biên Phủ bị bao vây, bộ đội ta chuẩn bị tấn công, nên lính Pháp ở Quảng Trị cũng hoang mang dao động. Uỷ ban kháng chiến và xã đội chủ trương mở rộng binh vận, khuyên lính nguỵ bỏ súng trở về quê hương. Làng Mai Xá cũng phải giác ngộ số con em mình bị bắt đi lính đang ở trong đồn.
Trước tiên là phải vây đồn, ngăn tiếp tế từ ngoài vào, buổi tối tổ chức gọi loa tuyên truyền chính sách của Đảng và Chính phủ, với thắng lợi của bộ đội ta ở khắp các chiến trường, nhất là ở Điện Biên Phủ, khi cuộc tổng tấn công sắp bắt đầu… Các gia đình có con em đóng ở đồn tìm cách tiếp cận để gây tình cảm, phân tích lợi hại, thế của ta và địch ở các chiến trường. Phải nắm số lính nguỵ có cảm tình với ta, muốn trở về với dân, với Đảng, tuyên truyền giác ngộ và biến họ thành những tuyên truyền viên đắc lực trong hàng ngũ địch. Thế là một số con em đã trở về, số lính đảo ngũ ngày càng đông, rồi một đêm tất cả số lính là con em làng Mai đều bỏ đồn về nhà. Sáng ra, bọn lính trong đồn hoang mang cực độ, tìm cách đào ngũ, rút cục không còn một người lính nào trong đồn.
Làng Mai Xá Chánh được giải phóng như thế đó.
Ta lấy được đồn mà không tốn một viên đạn nào, chính sách binh vận tốt đã giúp người dân làng Mai Xá giải phóng được quê hương. Xin mời các bạn đón theo dõi phần 2 viết về lịch sử kháng chiến chống Mỹ của chúng tôi lần sau.

Hữu Mai-Khắc Bản

    Gửi bình luận

    Your email address will not be published. Required fields are marked *

    CÓ THỂ BẠN SẼ THÍCH