Đông Hà văn hóa uống cà phê có từ lâu đời

Từ năm 1953, khi người Pháp còn chiếm đóng đã thấy Đông Hà có cà phê. Thời ấy chỉ có quan chức người Pháp và làm việc cho Pháp, binh lính Pháp mới có Cà Phê để uống. Dân lao động An Nam thì không.

Sau hòa bình, hơn một thập kỷ bao cấp nghèo khổ, ở Đông Hà có một số quán cà Phê nhưng rất ít khách. Khi hạt gạo không đủ đổ vào nồi, mấy ai nghĩ tới những sinh hoạt xa xĩ. Một ly cà phê bằng hai bó rau muống, ai dám chi tiền?

dong-ha-van-hoa-uong-ca-phe-da-co-tu-lau-doi2Cafe Doha trên đường Lê Qúy Đôn-Đông Hà

Bây giờ lại khác, Nếu nói người Đông Hà thích uống cà phê, có lẽ không chính xác mà phải nói: “Thích thưởng ngoạn cà phê”, bởi nhu cầu giải khát, tăng dinh dưỡng, không quan trọng bằng được thưởng thức hương vị cà phê, không gian thiên nhiên đẹp được nhân tạo đa dạng trong các quán, và tình người ấm cúng mỗi khi quây quần bên tách cà phê. Sáng ra hoặc mới chớm tối đã thấy người người đi thưởng thức cà phê: Thanh niên, học sinh, trung niên, già cả, đàn ông, đàn bà. Có thể nói, người sử dụng cà phê nhiều hay ít cũng là một thước đo trình độ phát triển kinh tế xã hội. Với người Đông Hà, cà phê đã trở thành thông dụng. Tôi có một người bạn tên là Thu Hà, giáo viên dạy nhạc. Bạn nói với tôi rằng: “Ly cà phê buổi sáng là không thể thiếu. Uống xong một ly cà phê, người tỉnh táo, hồn nhạc như bay bổng thêm.” Một người bạn khác, anh Đông, ở Công ty tư vấn nói: Tôi không có thời gian thưởng thức cà phê buổi sáng, nhưng buổi chiều, sau giờ làm việc, ghé vào quán cà phê 30 phút, mọi mệt nhọc ở công sở bay đâu hết. Về nhà với vợ con, khuôn mặt đáng yêu hơn.

Người sử dụng cà phê ngày một đông thì quán cà phê cũng mọc lên ngày một nhiều. Không chỉ riêng ở thành phố Đông Hà, ở thị xã Quảng Trị, các thị trấn, thị tứ, ở làng quê, từ miền biển tới trung du, đâu cũng có quán cà phê. Bạn đi đường mệt nhọc, cần một ly cà phê cho tỉnh táo, đưa mắt qua hai bên đường sẽ nhanh chóng nhìn thấy một quán nhỏ xinh xinh nào đó với cô chủ quán tươi trẻ, pha cà phê sành điệu, đón tiếp. Ở Đông Hà, nhiều nơi quán cà phê mọc lên dày đặc. Hai tuyến phố Đào Duy Từ, Lê Thế Hiếu, được mệnh danh là phố cà phê. Chỉ tính riêng ở Đào Duy Từ, hai bên đường, từ số nhà 01 đến số nhà 27 đã có tới 18 quán cà phê khá lớn, đủ sức chứa cả trăm người. Đáp ứng nhu cầu thưởng thức cà phê, “chơi” cà phê ngày càng cao của người Đông Hà, nhiều quán cà phê được xây dựng rất hoành tráng, đầu tư một số tiền đáng kể, không kém cạnh những quán cà phê xịn ở Sài Gòn, Hà Nội như quán Giao Chỉ đường Trần Hữu Dực, quán 27 đường Đào Duy Từ… Anh Đặng Ngọc Lành cho biết: Để có quán Nét Xưa đẹp và hoành tráng như bây giờ, anh đã chi 7 tỷ đồng. Riêng cây lộc vừng trước cửa đã phải mua 50 triệu. Muốn kinh doanh cà phê không chỉ có kỹ năng kinh doanh mà phải am hiểu nghệ thuật làm đẹp. Tiêu chí trước hết của quán cà phê là đẹp. Đẹp trong cách xây dựng nhà cửa, tạo cảnh quan môi trường, lựa chọn bon sai, đắp hòn non bộ, lựa chọn nội thất. Được vậy, người đến thưởng thức cà phê sẽ có thêm nguồn cảm hứng, đến một lần, không thể không đến lần sau. Cái giá đó được tính trong ly cà phê. Một ly cà phê chất lượng như nhau, ở quán này là 6 ngàn đồng, ở quán khác là 16 ngàn, người thưởng thức cà phê vẫn vui vẻ chấp nhận.

Để giành cho mình một mảnh đất kinh doanh, các quán cà phê đã có xu hướng đầu tư chiều sâu: Cà phê không nhạc, giành cho những người muốn phút gặp gỡ riêng cho chuyện chúng mình, cho những ai muốn bàn bạc công việc. Cà phê nhạc trẻ giành cho tuổi tình yêu, cho những tâm hồn lãng mạn. Cà phê nhạc Trịnh, cho những fan mến mộ Trịnh Công Sơn. Xây dựng quán có nét xưa cho những người có độ dày tâm lý, ưa thích sự chỉnh chu. Xây quán theo phong cách hiện đại cho sự đam mê của giới trẻ, ưa sự đổi mới, mơ về tương lai…

Nhiều người đến quán cà phê với một phong cách riêng. Ở quán Ba Zan thường có một cô gái đi uống cà phê một mình với một cuốn sách trên tay. Mặc cho ai đó thủ thỉ chuyện trò, mặc cho tiếng nhạc du dương với bao lời hát quyến rũ, bên ly cà phê bốc khói, cô thả hồn vào trang sách. Có một nhà văn, khi có nhu cầu sáng tác lại xách laptop ra quán cà phê. Mặc cho xung quanh có sự ồn ào, nhà văn cứ gỏ máy, gỏ máy… và những bút ký, truyện ngắn khá hay nối tiếp chào đời.

dong-ha-van-hoa-uong-ca-phe-da-co-tu-lau-doi

Lại có những anh chàng đến quán cà phê một mình, không làm gì cả, chỉ ngữa mình sau ghế, đôi mắt lim dim. Phải chăng những phút ấy, anh quên được gánh nặng áo cơm, trở lại chính mình, thưởng thức hạnh phúc của sự nhàn tâm quý giá.

Mỗi vùng miền có một thú thưởng thức cà phê khác nhau. Nếu ở Đông Hà, người thưởng thức cà phê tìm đến quán, thì bây giờ ở Sài Gòn đang có trào lưu cà phê bệt. Nhiều người, đặc biệt là giớ trẻ, không đến những hàng quán cao sang mà tìm đến những bãi cỏ công viên, những lề đường ít người qua lại, những khoảng trống hiếm hoi trong lòng thành phố. Ly cà phê để bệt dưới đất, dưới cỏ, nam thanh nữ tú ngồi bệt trên thảm cỏ, bên nhau, thả hồn theo những áng mây trời lảng đảng bay, hoặc vui với tiến líu lo của những đàn chim sẻ, ngắm đàn bồ câu nhởn nhơ đi kiếm cái ăn. Những chiều trời nắng, ở công viên Thống nhất, khoảng trống từ nhà thờ Đức Bà đến dinh Thống Nhất thành một chợ cà phê bệt đông vui.

Mỗi thời, cách uống cà phê mỗi khác. Thời Pháp, khi cà phê mới vào Đông Hà, những người quý phái uống cà phê theo phong cách Sài Gòn dạo đó là uống trong đĩa. Cà phê là thức uống sau khi ăn hủ tiếu, chủ yếu là do dân Ba Tàu chế biến. Cà phê rót vào đĩa, đòi hỏi phải rất khéo léo, khi uống mới khỏi sánh ra ngoài. Đó là một tiêu chuẩn chứng tỏ sự sành điệu, quý phái. Ai uống cà phê trong ly được liệt vào loại uống nước lả trong gáo dừa, hạ dân, không đáng bàn. Khi trào lưu uống cà phê phin ra đời, người Đông Hà mới uống cà phê trong ly.

Cà phê có nhiều cách chế biến, nhiều biến thể, nhưng người Đông Hà thường dùng hai loại: Cà phê đen, cà phê nâu (cà phê sữa), nóng hoặc đá. Đó cũng là sở thích của nhiều người dân ở các vùng miền khác.

Nước Việt Nam sản xuất và xuất khẩu cà phê đứng thứ hai trên thế giới. Người Việt dùng cà phê đông, có lịch sử tiêu dùng lâu đời, đã có một nền văn hóa cà phê của người Việt. Âý vậy mà có người phương Tây chê: không ít người Việt không biết dùng cà phê. Bị chê thì có chút buồn, nhưng thử hỏi vì sao vậy?

Không biết từ ai và từ lúc nào, không ít người Đông Hà và người nước ta có tiêu chí cho ly cà phê là đen, đặc, thơm, quện (dính thìa, dính cốc, dính đá). Những đặc tính đó không có trong cà phê nguyên chất. Nếu dùng hạt cà phê rang lên, nghĩa là như nó vốn có, sẽ thấy màu vàng nhạt như nước trà pha hơi đậm, có mùi hương thoang thoảng, không nồng, không quện. Có cung thì có cầu, do những tiêu chí người tiêu dùng ham thích, người chế biến cà phê bột đã trộn hạt ngô và đậu vào rang cho “cà phê” được quện, cho phẩm màu để đen, cho hương liệu để thơm nồng. Không ít chất pha chế đó là độc hại, âm ỉ và dai dẳng tàn phá sức khỏe người dùng.Thưởng ngoạn cà phê là thú văn minh. Người Đông Hà sử dụng cà phê đã trở thành văn hóa không thể thiếu. Nếu ở quán nhậu, bia rượu vào, lời ra, đôi khi nóng gáy, lon bia ở bàn bay vào mặt kẻ khác thì ở quán cà phê không có chuyện đó. Người người nói chuyện nhỏ nhẹ, thân tình, chào hỏi nhau nồng ấm, bắt tay nhau thân thiết. Vui thú nhưng phải biết tự bảo vệ mình. Cũng như mọi thứ thực phẩm khác, người tiêu dùng cà phê phải biết tự lựa chọn.

Ngày nay Đông Hà đã có cà phê rang. Chủ quán rang cà phê hạt nguyên chất, pha cà phê như nó vốn có cho khách hàng, không cho thêm bất cứ một phụ gia nào. Không ít người cho rằng cà phê loại này không ngon. Thực ra là do trào lưu thị hiếu người tiêu dùng. Dùng cà phê tạp nhiều và lâu nên quen, hình thành một sở thích không đáng có. Cả thế giới văn minh Âu Mỹ đang dùng cà phê như nó vốn có, ghê sợ cà phê đểu. Sở thích không lợi ích nào rồi cũng đi qua. Tin tưởng rằng, một ngày không xa, những người quen uống cà phê tạp sẽ từ bỏ nó, sẽ trở về với cà phê chính nó, là báu vật “Thượng đế” đã ban cho loài người.

Lê Văn Thê

    Gửi bình luận

    Your email address will not be published. Required fields are marked *

    CÓ THỂ BẠN SẼ THÍCH