9 câu chuyện hay về làng Mai Xá

Mến chào bà con làng miềng, Hôm nay Mai Linh tình cờ đọc được những mẩu chuyện hay về làng Mai Xá của Bloger Hữu Mai. Thiết nghĩ, những câu chuyện này chắc chắn lớp trẻ bây giờ nhiều người không biết?? Câu chuyện rất hay kể về các nguồn gốc cũng như những dấu tích từ lâu lắm. Hi vọng mọi người đọc và truyền kể cho con cháu đời sau. Trân trọng!

1. 99 Cồn
Cánh đồng Côi, đồng Sau, đồng Kêng của làng Mai Xá rất rộng có nhiều cồn.

Truyện dân gian xưa kể rằng ba cánh đồng làng nằm sát sông Thạch Hãn và sông Hiếu về phía bắc, vùng này lau sậy nhiều, đường đi lại hiểm trở và là tiền đồn của quân ta chiếm giữ bờ bắc không cho quân Chăm tràn qua. Vì đất bùn lầy, nước ngập nên quân lính phải lấy đất đắp nhiều cồn để có nơi canh gác, luyện tập.

9-cau-chuyen-hay-ve-lang-mai-xa8Đường lên Cồn Trấm

Nhưng có người nói rằng những cái cồn này đã có từ xưa. Có 99 cái cồn tất cả, bầy hạc bay qua có 100 con, sà xuống các cồn để đậu nhưng chỉ có 99 cồn, con vạc thứ một trăm không có chỗ đậu, nó bay đi nên cả bầy hạc bay theo. Nếu có đủ 100 cái cồn, thì bầy hạc sẽ đậu lại, đưa vinh hoa phú quý về cho làng, nhưng bầy hạc không đậu nên làng Mai không trở thành kinh đô, thành phố.
Hiện nay trên bốn cánh đồng, số cồn vẫn tồn tại, là nơi mà dân làng xây lăng tẩm, hoặc là các cồn cỏ xanh tươi để thả trâu bò.
2. Chuyện Quả bầu
Các cụ kể rằng ngày xưa giữa Mai Xá với Lâm Xuân và các làng khác chưa có cột mốc phân chia ranh giới. Sau nhờ có vụ kiện giữa hai làng Mai Xá và Lâm Xuân, quan trên xử kiện và xác định ranh giới giữa các làng. Chuyện rằng ở Mai Xá có một người lấy chồng ở làng Lâm Xuân. Chồng làm hương bộ giữ sổ sách điền thổ của làng, người vợ đã lấy mấy tờ trong địa bạ của làng Lâm Xuân đưa về cho làng Mai Xá. Vì thế hai làng đã kiện nhau về ruộng đất. Nhân một năm có trận đại hồng thuỷ, nước ngập tất cả các cánh đồng, quan trên xử như sau: Dân làng dùng quả bầu khô thả từ đầu nguồn nước ở Đôộng Hao Hao, đường đi của quả bầu sẽ là ranh giới giữa các làng. Khi bắt đầu thả quả bầu thì có gió tây, trôi một đoạn thì có gió nam nên quả bầu đổi hướng. Sau một thời gian bầu trôi, gió lại đổi hướng Đông, rồi quả bầu lại đổi hướng… Cụ thể như ranh giới làng Lâm Xuân với Làng Mai là từ động Hao Hao về đến Lò Rèn rồi đi vòng ra Lâm Xuân Tây, Lâm Xuân Đông, đến Hoàng Hà qua Hà Hõm thuộc xã Duy Phiên, Duy Phiên lúc bấy giờ thuộc huyện Minh Linh, cùng huyện với làng Mai Xá. Từ đó đến bây giờ ranh giới giữa các làng vẫn không thay đổi.

9-cau-chuyen-hay-ve-lang-mai-xaq

Chuyện dân gian về quả bầu không biết có thật hay không, song đất của làng Mai nay còn nguyên vẹn như xưa, tuy các cột mốc lâu ngày bị hư hỏng nhưng ranh giới của các làng vẫn không thay đổi, dân làng nào vẫn canh tác trên phần đất của làng mình, không tranh chấp, không kiện tụng vì vẫn còn giữ được địa bạ của các làng từ năm 1827 thời Minh Mạng năm thứ 8 đã phân giới, có cột mốc rõ ràng.
3. Thần Cẩu.
Ngày xưa đất làng Mai Xá liền một dải từ Cồn Tiên đến cửa Việt Yên. Dân Mai Xá Thị chuyên sống trên sông buôn bán, đánh bắt cá ven sông của làng Mai Xá. Sau có một quan lớn ở triều đình Nguyễn tên là Trần Đình Túc (Trần Đình Ân), người ở làng Hà Trung bàn với làng Mai Xá cắt đất cho dân Mai Thị thành lập làng.

Dân làng Mai Xá đồng ý, nhưng con đường liên thôn dọc bờ sông Hiếu, con đường Bạn từ bến đò Kênh lên xóm sau của làng Mai là thuộc về đất làng Mai Xá Chánh. Sau khi được thành lập, làng Mai Xá Thị tổ chức xây đình (khoảng năm 1925). Đòn đông của đình làng Mai Xá Thị đâm vào vùng dân cư đông đúc của làng Mai Xá Chánh.

Thầy địa lý xem xét và nói rằng: Nếu đình này làm xong, ba tháng sau ở làng Mai Xá Chánh gà sẽ không gáy, chó không sủa, nhà cửa bị thần Hoả thiêu trụi, dân làng sẽ bị bệnh dịch…Làng Mai Xá Chánh nghe thế liền đâm đơn lên huyện, tỉnh để kiện. Vụ kiện kéo dài gần 10 năm, ban ngày dân Mai Xá Thị xây, ban đêm dân Mai Xá Chánh sang đập phá. Huyện cho lính lệ về bảo vệ đình làng Mai Xá Thị, dân Mai Xá Chánh tìm cách ngăn lính lệ từ xa, không cho lính lệ về làng.

9-cau-chuyen-hay-ve-lang-mai-xa3

Sau nhiều năm, trên huyện, tỉnh cho lính khố đỏ về can thiệp, thực hiện giới nghiêm dân làmg Mai Xá Chánh, cứ 3 nhà thì có một lính theo dõi, không cho dân ra khỏi nhà, không cho dân liên lạc với nhau vì thế dân làng Mai Xá Chánh không phá được đình. Tháng 7/1935, Đình Mai Thị làm xong. Dân Mai Xá Chánh tức lắm bàn nhau nhờ một pháp sư dựng “thần Cẩu” há miệng đớp ngôi đình và truyền bùa phép vào thần Cẩu để bảo vệ nhà cửa, hoa mầu dân làng
Ngài thần Cẩu được dựng trên mô đất cao ráo, thoáng đãng. Về sau dân hai làng sinh sống bình thường không xảy ra chuyện gì nữa. Sau khi thống nhất nước nhà, làng Mai Xá Chánh nhường thêm cho làng Mai Xá Thị một số đất canh tác ở phía bắc đường Bạn. Làng Mai Xá Chánh, Mai Xá Thị, Lâm Xuân thuộc xã Gio Mai…
4. Bài hát “ Bà mẹ Gio Linh”
Cuối năm 1948, bài hát “ Bà mẹ Gio Linh” đã in sâu vào lòng người dân làng Mai Xá Chánh, Mai Xá Thị xã Gio Quang, huyện Gio Linh. Mọi người lính quân khu Bình Trị Thiên đều thuộc bài hát đó. Trước khi ra trận hoặc sau trận đánh trở về, mọi người lính đều hát. Bài hát không những để lại trong lòng dân một nỗi đau thương của hai bà mẹ già, của hai gia đình, của dân hai làng Mai mà còn gây nên lòng căm hờn, uất hận đối với kẻ thù độc ác, man rợ của nhân dân cả nước. Đây là một trong những bài hát yêu nước có tác dụng lớn, nó động viên nhân dân, bộ đội “nhằm thẳng quân thù mà bắn”, trong những ngày đầu chống thực dân Pháp ở vùng Bình Trị Thiên.
Cùng với cả huyện Gio Linh, người dân làng Mai đã góp phần tạo dựng nên “Huyện kháng chiến kiểu mẫu” năm 1949 của huyện Gio Linh.

dat-me-quang-tri2

Ngày 16-8-1948 dân làng Mai không bao giờ quên đó là ngày mà bọn giặc Pháp cắt đầu ông Kỳ và ông Phi đem cắm ở mép sông, gần chợ trước cổng Đình làng Mai. Trong đợt càn quét quy mô của giặc Pháp, cả dân làng và tự vệ của làng phải tìm cách trốn thoát, nhưng giặc Pháp vây chặt, một số nhân dân bị bắt, ông Nguyễn Đức Kỳ, chính trị viên xã đội và ông Nguyễn Phi cán bộ bình dân học vụ cũng bị chúng bắt được đem về giam ở đồn Nhỉ Hà. Chúng tra tấn hai ông suốt ngày đêm nhưng hai ông cương quyết không khai báo một lời nào, chúng hành quyết rồi cắt đầu hai ông đem cắm ở chợ làng Mai. Vì làng Mai là một làng đồng thuận đoàn kết, con em làng Mai đa số đi bộ đội, dân làng Mai ai ai cũng có tinh thần chống Pháp, chúng muốn nhân cơ hội này để uy hiếp tinh thần chiến đấu của dân, quân làng Mai, của nhân dân huyện Gio Linh nhưng chúng đã nhầm to, mối thù nhà, nợ nước này không bao giờ quên được, nó càng thổi lên ngọn lửa căm hờn của toàn dân, nó càng tăng thêm sức chiến đấu của dân làng Mai, của nhân dân, của tự vệ, của bộ đội huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Khi cắm đầu của hai ông xong, lính Pháp canh gác nghiêm ngặt, chúng tuyên bố rằng ai lấy đầu hai ông về chúng sẽ bắn chết và bắt cả gia đình tra tấn. Nhờ có sự theo dõi, tình báo của đội tự vệ, đã tìm được chỗ sơ hở của bọn giặc, hai gia đình đã mang đầu của hai ông về chôn cất an toàn.
Buổi chiều, mặt trời sắp tắt, bọn lính kéo vào đồn để ăn cơm. Nhân thời cơ đó Bà Lê Thị Cháu mẹ của ông Kỳ và bà Khương Thị Mén thím của ông Kỳ, bà Hoàng Thị Sáng mẹ của ông Phi, bà Bùi Thị Con thím của ông Phi cắp thúng mủng giả dạng đi chợ đã mang đầu của hai ông về và cất dấu kỹ, vài hôm sau mới đóng hòm đem chôn. Mãi đến năm 1953, hai gia đình đã ra đồn Nhỉ Hạ lấy thân xác hai ông về. Thi hài hai ông được gắn kết trọn vẹn. Mộ của ông Kỳ được đặt trong khu lăng mộ phái Nguyễn Đức tại Cồn Go. Mộ ông Phi đặt trong khu lăng mộ gia đình tại Cồn Dài – cánh đồng Kênh, làng Mai Xá.
Năm 1948, trong chuyến đi công tác vào chiến trường Bình Trị Thiên, nhạc sĩ Phạm Duy đã đến chiến khu huyện Gio Linh, ông nghe kể lại chuyện bà mẹ làng Mai lấy thúng đi mang đầu con về… Một đất nước có một nhân vật như bà mẹ Gio Linh đáng quý lắm. Vì vậy nhạc sĩ Phạm Duy sáng tác bài hát ”Bà mẹ Gio Linh”. Ông cho biết ông sáng tác “Bà mẹ Gio Linh” trong một đêm, lúc nằm trên giường tre ở chiến khu.
Bài hát có 3 đoạn:
“Mẹ già cuốc đất trồng khoai, nuôi con đánh giặc đêm ngày cho dù áo rách sờn vai, cơm ăn bát vơi bát đầy, hò ơi ơi ới hò…
Mẹ già tưới nước trồng rau, nghe tin xóm làng kêu gào, quân thù đã bắt được con, mang ra giữa chợ cắt đầu, hò ơi ơi ới hò nghẹn ngào không nói một câu, mang khăn gói đi lấy đầu”…
Trong một đêm nhạc sĩ đã sáng tác được một bài hát vô giá. Đài phát thanh Pháp bình luận, có đoạn “Những giây phút sáng tạo như thế không đến nhiều lần trong đời nghệ sĩ… Từ niềm đau cá nhân của một người mẹ đã thăng hoa thành niềm đau chung của một dân tộc và của loài người”.
5. Ngã ba Gia Độ
Con sông Thạch Hãn là sông lớn nhất của tỉnh Quảng Trị, chảy từ nguồn về qua thị xã Quảng Trị, khi đến làng Gia Độ gặp con sông Hiếu chảy từ Cam Lộ về tạo thành ngã ba sông, được gọi là ngã ba Gia Độ. Dòng nước của hai con sông tiếp tục chảy về cửa Việt Yên qua hai con đường bao quanh cánh đồng Soi của làng Mai Xá Chánh, đến Bơi Bơi thì chúng nhập lại chảy ra biển Đông. Ngã ba sông Gia Độ tương đối rộng, phía nam tiếp giáp với huyện Triệu Phong, phía Bắc tiếp giáp với huyện Cam Lộ, phía Tây tiếp giáp với thị xã Đông Hà, phía Đông tiếp giáp với làng Mai Xá Chánh, huyện Gio Linh.
Tàu, thuyền qua lại ngã ba tấp nập, ngày xưa đường bộ đi lại khó khăn, thường người ta đi bằng đường thuỷ để buôn bán. Thời Lý, Trần, Nguyễn muốn chuyển quân vào Nam cũng đi qua đường thuỷ, thuyền chiến chở quân vào cửa Việt Yên rồi theo sông Thạch Hãn lên ngã ba Gia Độ rồi vào ái Tử, hoặc lên Đông Hà….

9-cau-chuyen-hay-ve-lang-mai-xaKhúc gần ngã 3 Gia Độ

Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, bọn giặc đã dùng tàu chiến chở lính, súng đạn, dùng tàu hàng để chở lương thực, thuốc men từ tàu lớn ở ngoài khơi cửa Việt tiếp tế cho thị xã Quảng Trị, Đường 9, Khe Sanh , Nam Lào…, các tàu đều đi qua ngã ba Gia Độ. Du kích, tự vệ của làng Mai Xá Chánh đã phối hợp với du kích xã, bộ đội đặc công nước, quân địa phương, quân chủ lực đánh tàu thuyền địch trên sông Thạch Hãn, ở ngã ba Gia Độ. Có một trận đánh trên ngã ba sông, đã để lại dấu ấn không người nào ở Quảng Trị quên được. Theo lệnh của chỉ huy chiến dịch, cần phải tiêu diệt tàu địch ở ngã ba sông Gia Độ. Dân làng ở ven sông Hiếu gần ngã ba phải chuẩn bị nhiều cọc tre tươi để đóng cọc ngăn sông.
Tối 6/2/1968, đồng chí Nguyên Sanh cán bộ của huyện Gio Cam đã triệu tập một hội nghị quan trọng để vạch kế hoạch đánh tàu chiến của giặc trên sông Hiếu bằng cách đóng cọc ngăn sông. Hàng cọc ngầm dài 500m, rộng hơn 200m từ ngã sông Gia Đô đến Hói Sòng Đại Độ, kết hợp với việc rải mìn, thuỷ lôi. Hơn 1.000 cọc tre, gỗ đã cắm xong trước khi trời sáng.
Sáng ngày 8/2, tàu tuần tiễu từ Đông Hà chạy xuống vấp thuỷ lôi nổ, một số bị hỏng, số còn lại chạy về Đông Hà; 12 giờ ngày 8/2 hai tàu tuần tiễu từ cửa Việt chạy lên bắn vào trận địa. Bị đại đội DKZ bắn cháy một chiếc, chiếc còn lại tháo chạy. Trưa ngày 9/2/68, địch cho một đoàn tàu chiến có pháo lớn hỗ trợ và tàu “há mồm” chở 5 xe bọc thép và bộ binh Mỹ bắn xối xả vào các làng ven sông Thạch Hẵn và sông Hiếu. Tàu lên đến ngã ba Gia Độ thì vấp phải cọc tre không chạy được. Trong lúc bọn địch đang hoang mang thì bị hoả lực của ta bắn dữ dội: 3 xe bọc thép bị cháy, ba tàu bị chìm và hàng chục lính Mỹ bị chết. Đến chiều, chúng huy động sáu lượt máy bay AD6 ném bom xuống trận địa và các làng ven sông xã Gio Hà và xã Cam Giang.
Chiến thắng này dân Quảng Trị ví như chiến thắng sông Bạch Đằng năm xưa. Chiến thắng ở ngã ba Gia Độ đã làm cho bọn giặc kinh hồn, quân lính mất tinh thần. Tuyến giao thông cửa Việt Đông Hà tê liệt hơn 4 ngày liền. Mặt trận B5 đã biểu dương dân và quân huyện Gio Cam.
6. “Ngài Rùa” làng Mai
Năm 1892, làng Mai đã trùng tu lại đình, xây ngôi đình mới khang trang, theo kiểu đình của xứ Huế. Ngôi đình xây trên một vùng đất cao, phong thuỷ hữu tình. Nội thất trong đình đầy đủ, trang nghiêm…. trước bàn thờ các vị khai khẩn có đôi hạc đứng trên lưng hai con rùa. Rùa và hạc biểu trưng cho sự trường tồn, lâu đời của thiên nhiên. Hai con hạc và hai con rùa đều làm bằng gỗ mít, chạm trổ rất công phu, sơn son thiếp vàng óng ánh.
Mùa hè năm 1967, Mỹ nguỵ lập một cầu vận tải từ biển theo sông Thạch Hãn và sông Hiếu lên sân bay ái tử và cảng Đông Hà để “tăng bo” hàng chiến lược lên đường 9 – Khe Sanh. Chủ trương của giặc là phát quang hai bên bờ sông Hiếu, sông Thạch Hãn, để đẩy quân giải phóng ra xa tuyến hành lang này. Trong kế hoạch đó, đơn vị thuỷ lục quân của viên đại uý Uy – li – am nhận nhiệm vụ san phẳng làng Mai. Sau khi làng bị san phẳng, Uy – li – am đến nền đình đổ nát, thấy một con rùa bằng gỗ, sơn son thiếp vàng lạ mắt, bèn nhặt lên và giữ bên mình như một chiến lợi phẩm.

9-cau-chuyen-hay-ve-lang-mai-xa2Đình làng Mai Xá Chánh

Chiến tranh đưa Uy – li- am đến nhiều vùng đất, nhiều châu lục trở thành trung tướng chỉ huy trong lực lượng thuỷ quân lục chiến của Mỹ. Suốt gần 40 năm – từ năm 1967 đến năm 2002, nỗi ám ảnh về những trận chiến trên vùng đất Quảng Trị luôn luôn dằn vặt ông, như một vết thương tâm hồn không thể nào lành. Ông Uy – ly – am quyết định sang thăm Việt Nam theo đoàn cựu chiến binh Mỹ và mang theo con rùa để trả lại cho đình Làng Mai. Viên tướng về hưu Uy – li – am run run mở bọc vải, đặt lên bàn thờ con rùa bằng gỗ đã tróc gần hết sơn son, thiếp vàng. Đoạn chấp tay cúi đầu: “Xin hãy tha thứ cho những lỗi lầm của tôi, cũng như sự chậm trễ này”.

Các chức sắc, các bô lão của làng Mai ngỡ ngàng. Đó là con rùa của đình đã mất từ năm 1967. Con rùa làm năm 1892 đến nay là 117 năm (năm 2002) đã đi một nửa vòng trái đất, từ Việt Nam đến Mỹ và ngược lại. Đúng là “Ngài Rùa” lịch sử của làng Mai Xá Chánh.
7. Cố Tổng Miên
Chuyện được ông Chậu kể, tôi ghi lại ở đây. Rất tiếc là lúc nhỏ, chỉ nghe sự việc, chứ đâu tò mò hỏi rõ nhà ở, thời điểm nào sinh cố Miên
Bố tôi kể: Năm Triều đình mở kỳ thi võ, cố tổng Miên đi thi, các môn côn, kiếm, giáo, quyền, cố đều hạng ưu. Đến môn thi bắn cung, cố đau mắt bắn không trúng hồng tâm, nên bị loại, mất bằng cử võ.
Bố kể tiếp: Có những chiều Cố cầm côn dài ra đứng ở ngã ba đường Quai Mọ, chờ lũ trẻ chăn trâu, chăn bò về, thách đánh nhau với cố. Lũ trẻ ném mạnh vào cố nào que, nào gậy, nào đá có sẵn trong tay. Nhưng cái côn dài của cố múa tròn, múa lẹ, hất tung mọi thứ. Bọn trẻ chịu thua. Cố ngừng tay. Cười vui không chút thở dốc nào. Câu chuyện này tôi liên tưởng đến Triệu Tử Long phá Đương Dương trong chuyện Tam Quốc, chắc có thật.
Ông Chậu kể cho tôi nghe : Hồi ấy ông còn nhỏ tuổi, đi với cố Tổng Miên lên Bát phường ăn giỗ. Có việc gấp phải về Mai Xá ngay trong đêm. Bát phường lúc ấy cây cối rậm rạp và rừng già bao bọc xung quanh. Ban đêm nhà nào cũng đặt những ống tre lồ ô to từ trong nhà xuyên ra hè để tiểu tiện, khỏi phải mở cửa ra ngoài, tránh rủi ro, gặp hổ rình bắt người, heo, bò, chó. Cố Tổng Miên cầm roi song mây đi trước, ông Chậu sợ dựng đứng tóc gáy, bám lấy lưng quần cố Tổng Miên đi theo sau, giữa đường gặp cọp, hai cục than đỏ ngầu ngầu tiến thẳng tới. Lập tức hai bên quần nhau quyết liệt. Cố Miên cầm dựng đứng cây roi và nói với cọp: “Mi không chịu chạy đi thì tau đành phải phạm tổ vậy”. Thế rồi cố vút thật mạnh đầu roi song, đánh phủ đầu trán cọp. Con cọp hét gầm một tiếng rồi biến mất trong đêm. Gần sáng hai ông con về đến làng, quần áo ông Chậu ướt đầm đìa.
Ông Chậu nói rằng Cố Miên có tài, nhưng không cậy tài, cố biết tuỳ nghi hành xử, đem lợi ích đến cho xóm làng. Sự việc như sau:
ở vùng ta hồi ấy có một tên ăn trộm nổi danh bậc thầy. Đi đêm, hắn thủ trong người một roi sắt lợi hại. Biết nhà mình bị trộm mà không ai dám đuổi theo, vì sợ tiếng roi sắt vút lên trong không trung, có khi chỉ là có một cơn gió mạnh réo rít, không làm chết ai, nhưng chỉ do quá sợ, mà ngã lăn đùng xuống đất bất tỉnh.
Đêm ấy, tên trộm bậc thầy mò đến nhà Tổng Miên. Nghe động, cố cầm côn, lách cửa, ra sân. Không biết cố dùng miếng võ bí hiểm gì mà vừa tránh được roi sắt, vừa tước được roi sắt trong tay kẻ trộm. Mất vũ khí, tên trộm bỏ chạy. Cố Miên không đuổi theo, trở vào nhà, đóng cửa, xoa chân ngủ tiếp. Nửa buổi sáng hôm sau, có một người khách, dáng người vạm vỡ, ăn mặc chỉnh tề vào nhà cố Miên. Cố Miên ra sân chào khách, mời khách vào nhà uống nước.
Dạ thưa bác! Đêm qua tôi đến nhầm nhà bác. Xin bác bỏ lỗi cho và xin bác lại cây roi, nghề làm ăn của tôi đó!
Cố Miên bình thản mời khách uống nước, rồi nói:
Ừ! Cái nghề làm ăn của chú, chú cứ làm, tôi trả lại cây roi cho chú và chỉ xin chú một điều: Từ nay chú làm ăn ở mô thì tuỳ, nhưng hãy chừa làng tôi, để làng tôi được yên ổn.
Người khách lễ độ vâng vâng, dạ dạ! Và quả thật từ đó về sau, làng ta vắng bóng thằng ăn trộm bậc thầy có một cây roi sắt.
(Ông Trương Công Hốt kể)
8. Ông Xạ Bột
Ông Trương Văn Bột ra đi vào lúc 10h39 phút tối ngày 27 tháng giêng năm 2004 (âm lịch). Các cơ quan tỉnh, huyện, xã, làng và đồng đội, cùng đông đảo bạn bè, bà con ruột thịt, làng xóm đến viếng và tiễn đưa ông về nơi vĩnh hằng, hưởng thọ 86 tuổi.
Ông sinh ra trong một gia đình trung nông ở làng Mai Xá Chánh, huyện Gio Linh tỉnh Quảng Trị. Cha mất sớm, một mình mẹ già nuôi tám anh chị em lớn khôn. Nhờ mẹ biết cách làm ăn, điều khiển gia đình giỏi nên việc làm ăn của gia đình ngày càng phát đạt và giàu có, có khi giàu nhất, nhì làng Mai. Ông Trương Văn Bột là trụ cột của gia đình về việc sản xuất, cày cấy.
Thủa nhỏ, ông học với thầy giáo Trương Quang Phiên (hiệu là Tiên Việt). Ông trợ Phiên có tư tưởng tiến bộ, bạn với ông giáo Đạm dạy ở Đông Hà. Hai thầy giáo có cảm tình với ông Bột. Năm 1936, ông Bột được hai thầy giáo cho đi dự buổi diễn thuyết về Cách mạng của ông Trần Công Khanh ở trên Đôộng Hao Hao. Ông Bột trở thành người giao liên của thầy giáo Phiên và thầy giáo Đạm.
Khi Nhật vào Đông Dương, làng Mai còn khuyết chức lý trưởng. Bô lão bảo thủ cử ông Tạ Lạn, Trương Khắc Cần. Trai trẻ cấp tiến do ông Trương Quang Phiên chỉ đạo. Ông Phiên bí mật gọi ông Trương Khắc Tá, Trương Khắc Nghi, Trương Văn Táo, Lê Quế là những người đứng về phe cấp tiến bàn cách đề xuất ông Trương Văn Bột. Ông Trương Văn Bột được chọn làm lý trưởng làng Mai.
Nhật đảo chính Pháp, thành lập bộ máy chính quyền mới. Nhật bắt quan huyện các địa phương ra lệnh cho nông dân phá lúa trồng đay, trong nửa tháng phải làm xong. Ông xạ Bột bàn với các ông xạ Chí ở Lâm Xuân, xạ Luận ở Nhỉ Hạ làm đơn xin quan huyện cho miễn việc trên, quan huyện không đồng ý. Nhưng các ông lặng lẽ không chấp hành .
Trong phong trào chống Nhật ở huyện, ở làng lên cao, ông xạ Bột xung phong vào đội cảm tử, được bầu vào Ban chấp hành thanh niên huyện Gio Linh.
Tháng 2 năm 1945, ông Bột với Nguyễn Đăng Dung thôn Vinh Quang diễn thuyết ở chợ Mai Xá. Tháng 3/1945, ông Bột mặc quần áo lý trưởng lên chợ Nam Đông bảo vệ cho bà Lê Diệu Muội diễn thuyết. Một chiều tháng 5/1945, thanh niên làng Mai đang tập ném đá như ném lựu đạn thật ra sông Hiếu, một chiếc đò có hai người chèo và một bà cầm lái đi qua. Bà lái đò nói: “Đừng ném nữa, nếu ném đúng quan Nhật thì chết”. Đám thanh niên đang hăng say ném bất chấp mọi thứ, có thanh niên tên là Trương Công Tự nói: “Quan quyền gì ta cũng ném”. Ông Tự ném cục đá đúng vào đò, lính Nhật liền đứng dậy bắn súng chỉ thiên và ghé đò vào gò làng. Lúc đó mọi người đều chạy toán loạn. Kẻ chạy về làng, kẻ chạy lên Lòi trốn. Toán lính Nhật đuổi theo, gặp ai cũng đánh và hỏi “Ai ném đá”? Ông Bột cũng có trong đám đông đó, người ta bảo ông chạy đi nhưng ông không chạy, ông nghĩ nếu mình chạy thì yên thân nhưng làng nước sẽ bị chết chóc và thiêu rụi. Ông chạy về nhà mặc quần áo lý trưởng, đeo bài chỉ, đi đến chỗ xảy ra sự việc. Ông đang đi trên con đê dẫn ra bờ sông thì gặp lính Nhật kéo nhau vào làng. Một người Nhật đeo kiếm dài nắm khẩu súng lục trong tay liền hỏi ông Bột: “Có phải lý trưởng không?”. Ông xạ Bột gật đầu, người phiên dịch nói: “Quan nhật hỏi người nào ném đá xuống đò”. Ông trả lời: “Hiện nay chưa biết, nhưng vì đây là địa phận của làng, chắc là người dân trong làng ném”. Người Nhật bảo : “Hẹn sau ba ngày, khi đò đi Đông Hà về phải nộp người ném đá, nếu không người Nhật đốt sạch cả làng, lùa hết cả trâu bò….”. Ông xạ Bột trả lời: “ vâng!”. Dân làng thấy đò Nhật đi rồi lần lượt trở về làng. Dân làng kéo vào nhà ông Xạ Bột càng ngày càng đông, ngồi đến 2 – 3 giờ sáng mà chưa về. Mọi người bàn tán, nêu ý kiến để giải quyết sự việc nhưng đều bế tắc.

lang-mai-xa-cai-noi-cua-dat-me-quang-tri3

Ông Xạ Bột đêm ấy không ngủ được, vắt óc suy nghĩ tìm ra cách giải quyết cho thoả đáng, rồi một ý tưởng nảy ra. Đò Nhật ở cửa Việt lên ta nên về cửa Việt tìm hiểu. Khi về cửa Việt, ông Xạ Bột gặp bà Xuân có cháu là O Bê làm thông ngôn cho Nhật.
Ông Xạ Bột kể sự việc cho bà Xuân và O Bê nghe. Hai người đều quen ông Bột nên họ nhiệt tình giúp đỡ. Họ trình bày với một sĩ quan Nhật và được viên sĩ quan giúp đỡ. Viên sỹ quan này ghi vào tờ giấy bằng tiếng Nhật rồi đưa cho ông Xạ Bột. Ông Bột phấn khởi lên thuyền về nhà. Về đến làng, các nhà chức sắc, nhân dân lại kéo đến bàn việc. Ông Xạ Bột kín đáo không nói gì cả.
Đúng sáng ngày hẹn với sỹ quan Nhật, ông xạ Bột mặc sắc phục lý trưởng, đeo thẻ bài đi ra Đình và gọi hai ông hương mục Lê ích và Trương Khắc Cát ra kê dọn bàn ghế, mở cửa đình, túc trực đón quân Nhật về. Ngày ấy, cả làng Mai đều đi sơ tán khỏi làng. Ông xạ Bột một mình ngồi ở đình chờ đợi giờ nguy hiểm đến với ông. Hơn 10h, đò Nhật đã về bến, một tiểu đội lính kéo nhau vào sân đình. Đến sân đình, viên chỉ huy hô một tiếng, tụi lính chia hai hàng bao quanh ngôi đình. Ông xạ Bột mời chúng vào đình, chúng không vào. Viên sỹ quan mặt đầy sát khí, hất hàm nói: “Thằng ném đá đâu rồi” ? Ông xạ Bột không trả lời, bình tĩnh đưa tay vào túi, rút tờ giấy đưa cho viên sỹ quan.
Viên sỹ quan cầm tờ giấy đọc, sắc mặt biến đổi và hô một tiếng, cả tiểu đội rút súng trở về tư thế bình thường. Viên sỹ quan giơ tay chào ông xạ Bột rồi rút quân xuống đò.
Thế là dân làng được yên, làng thoát được nguy hiểm. Ai cũng khen ông Xạ Bột mưu trí, dũng cảm, cứu được dân làng.
Ngày hôm sau ông xạ Bột mang triện và thẻ bài lên trả quan huyện
Ngày 10 tháng 2 năm 1946, ông cùng 6 người nữa được kết nạp vào Đảng Cộng sản. Chi bộ Đảng của Làng Mai được thành lập từ ngày đó. Năm 1947, ông xạ Bột gia nhập Vệ quốc đoàn thuộc trung đoàn 95, ông làm ở bộ phận tham mưu của trung đoàn. Ông phục vụ cho quân đội đến tuổi về hưu
Ông là một trong 5 người thuộc diện “cán bộ tiền khởi nghĩa” của làng Mai.

(Theo Hữu Mai)

    Gửi bình luận

    Your email address will not be published. Required fields are marked *

    CÓ THỂ BẠN SẼ THÍCH