Quảng Trị những nhà văn nhà thơ vang danh thế kỷ 20

Bộ phận dòng văn chữ quốc ngữ phát triển chủ yếu từ sau năm 1920 khi ở Quảng Trị có một lớp trí thức mới theo học các trường Pháp Việt. Chịu ảnh hưởng của văn hoá phương tây hoặc tham gia các phong trào yêu nước và cách mạng. Tiêu biểu là các tác giả Phan Văn Dật, Chế Lan Viên và một số thanh niên yêu nước khác.

Phan Văn Dật

Phan Văn Dật (1909-1986), quê ở Triệu Trung, Triệu Phong, Quảng Trị, là một trong những người thuộc phong trào thơ mới. ông còn là tác giả hai tập thơ Bâng Khuâng và Những ngày vàng lụa. Ngoài ra ông còn thành công ở thể loại tiểu thuyết với cuốn tiểu thuyết Diễm hương trang.

Thân phụ ông là Thị độc đại học sĩ Phan Văn Dư, cháu nội nhiều đời của Đô thông hậu quân Phan Văn Thúy (một bộ tướng của chúa Nguyễn Ánh) và An Thường công chúa (con vua Minh Mạng).

Xuất thân trong một gia đình có họ ngoại với hoàng tộc, có nhiều người làm quan võ, nhưng Phan Văn Dật lại yêu thích nghiệp văn, rất có thể vì ông chịu ảnh hưởng từ cha (Thị độc đại học sĩ) và hai cậu (nhà văn Trần Thanh Mại và nhà văn Trần Thanh Địch).

Thuở nhỏ, Phan Văn Dật theo học chữ Hán, lớn lên mới theo học chữ quốc ngữ tại Trường Quốc Học Huế.

Năm 1927, ông tốt nghiệp bằng Thành chung, vì gia cảnh phải thôi học vào làm thư ký tại Sở Trước bạ Đà Nẵng.

Năm 1939, ông về lại Huế làm ở Nha Ngân khố Trung Kỳ, rồi trải qua các sở: Sở Văn hóa, Nha Thông tin, Sở Ngân chánh Huế, đồng thời dạy học tại Trường Nữ học Đồng Khánh và Trường Quốc Học Huế.

Năm 1951, ông làm Chủ sự Phòng Trước bạ Huế. Tháng 11 năm này, ông được cử đi tu nghiệp ở Trường Trước bạ quốc gia Lyon, Pháp cho đến tháng 5năm 1952.

Năm 1959, ông được biệt phái sang Viện Đại học Huế, năm sau được cử làm Giảng viên Viện Hán học, sau kiêm cả chức vụ Giám học cho đến năm 1963.
Năm 1964, ông về hưu nhưng vẫn tiếp tục dạy giờ tại các trường Cao đẳng Mỹ thuật, Nông Lâm Súc, trường Bách khoa Bình dân và Trung học tư thục Đào Duy Từ.

Phan Văn Dật mất tại Huế vào ngày 11 tháng 2 năm 1987, hưởng thọ 80 tuổi, sau hơn mười năm rời bục giảng và cũng còn viết lách gì được nữa.

Tác phẩm của Phan Văn Dật, gồm:
•Bâng Khuâng (thơ, 1935)
•Diễm Dương trang (tiểu thuyết, giải thưởng Tự lực văn đoàn năm 1935)
•Những ngày vàng lụa (thơ, chỉ đăng rải rác ở các báo, ở trong các sách hợp tuyển, chưa in).

Bên cạnh đó, ông còn nhiều bài viết đăng trên các báo: Nam Phong tạp chí, Thực nghiệp dân báo, Thần Kinh tạp chí, Tràng An, tạp chí Khuyến học, Rạng Đông, Cười… Ngoài ra, ông còn để lại một số công trình nghiên cứu và dịch thuật khi Viện Đại học Huế mời ông giảng dạy và tham gia việc biên soạn sử liệu.

Phan Văn Dật là một người rất mê đọc sách báo, ngay từ 6 tuổi, ông đã biết để dành tiền mua chúng. Năm 1924, lúc 14 tuổi, ông bắt đầu sáng tác và có thơ văn đăng báo.

Tháng 12 năm 1935, Hoài Thanh và Hoài Chân có viết một bài về quyển thơ Bâng khuâng của ông trên báo Tràng An, sau được trích in lại trong quyển Thi nhân Việt Nam. Cùng năm này, tiểu thuyết Diễm Dương trang của ông được giải thưởng của Tự lực văn đoàn, và bài viết Nghệ thuật và nhân sinh của ông đăng trên tạp chí Khuyến học tại Hà Nội số ra ngày 15 tháng 12 năm 1935. Bài viết trên ngay sau đó đã bị báo chí thời bấy giờ lên tiếng phê phán và liệt ông vào phái “ nghệ thuật vị nghệ thuật” bên cạnh Hoài Thanh, Lưu Trọng Lư, Thiếu Sơn, Lê Tràng Kiều…Và cũng chính vì theo khuynh hướng này, nên thơ ông thường đa sầu, hoài cổ và mộng mơ.

Nhận xét về tập thơ Bâng Khuâng, Hoài Thanh và Hoài Chân viết:
...Nguyễn Nhược Pháp với tập “Ngày xưa” đã nhìn vào cảnh vật xưa bằng con mắt một người thời nay, Phan Văn Dật với tập “Bâng khuâng” đã nhìn cảnh vật ngày nay sau bức màn một tâm hồn xưa…Giữa cuộc đời náo động, người ngoảnh mặt làm ngơ và tự tạo cho mình một thế giới riêng, một thế giới lặng lẽ đầy mơ mộng…

Tôi không hay hưởng cùng cái hiện tại.
Hững hờ, tôi thường để nó đi qua.
Chuyện ngày nay sau tôi sẽ xót xa,
Tôi chỉ tiếc những giờ không trở lại.

…Nói cho đúng, thi nhân chẳng phải hoàn toàn sống trong cảnh xưa cảnh mộng và cái thế giới chung quanh tuyệt không có trong con mắt thi nhân. Người cũng biết say vì cảnh đẹp thoáng qua trước mắt. Có lúc bỗng sực nhớ mình là một trai trẻ đương tuổi yêu, nghệ sĩ nắn mấy vần thơ:

Ca ngợi tình yêu, vẻ đẹp em,
Lời thơ réo rắt tôi săn tìm.
Cậy người mang tặng cho em đọc,
Em để vào ngăn em chẳng xem.

…Thơ Phan Văn Dật không rực rỡ không réo rắt, không hùng tráng, không làm tha bồi hồi ngây ngất, nhưng vẫn khiến ta ưa đọc: nó là những vần thơ dễ thương. Ta không cảm phục mà ta lưu luyến, cũng như ta lưu luyến đất Kinh đô là nơi quê hương của thi nhân.

Nhìn chung, thơ Phan Văn Dật ít tả cảnh mà thiên về tình, cái tình hoài niệm ấy lại thường gửi gắm qua một câu chuyện tự sự. Ở ông không có những cảm xúc cháy lên như Xuân Diệu, cũng không phải là một tiếng thơ gợi lại những gì mộc mạc, thôn dã kiểu Nguyễn Bính, mà là thứ tình cảm tiếc nuối, nhân hậu, hướng về những gì đã qua đi không trở lại… Phan Văn Dật sớm tiếp thu cổ văn Trung Quốc và văn học cổ điển Pháp, lại ít nhiều chịu ảnh hưởng tư tưởng tự do dân chủ, nhưng ông vẫn neo chặt ngòi bút của mình vào khuôn phép đạo đức truyền thống, tuy không quá cổ hủ song cũng không dám buông thả…Điều đó, không chỉ thể hiện trong nội dung thơ, mà nó còn biểu hiện phần nào ở thi pháp nghệ thuật của ông. Đa phần thơ ông làm theo lối thất ngôn, ngũ ngôn của Đường luật, lục bát và song thất lục bát chứ chưa dám bước sang ranh giới của lối thơ phá thể, thơ tự do…

Xét về văn, Diễm Dương trang là tác phẩm văn duy nhất của Phan Văn Dật, được viết vào khoảng thời gian ông vào làm việc tại Sở Trước bạ Đà Nẵng, cho nên bối cảnh được tác giả đưa vào truyện chủ yếu tại bãi biển Mỹ Khê nằm cách Đà Nẵng không xa. Nội dung Diễm Dương trang kể về mối tình của anh thư ký Tòa sứ với các cô gái nhà khá giả như Dinh, Nga…

Đề cập đến tác phẩm này, Từ điển Văn học  viết
Tuy kết cấu còn đơn giản, nhưng tác giả đã biết dẫn dắt cốt truyện theo một trình tự thời gian đảo ngược giữa hiện tại và quá khứ một cách khá hiện đại. Đặc biệt, văn chương hết sức óng chuốt, không thua bất cứ nột tác phẩm văn xuôi nào thời bấy giờ….Qua “Diễm Dương trang”, chứng tỏ ngoài thơ, ông còn là một cây bút văn xuôi tinh tế, nhạy cảm, và không thiếu phần sắc sảo…
Tiểu thuyết Diễm Dương trang đã được Tự lực văn đoàn xét tặng giải thưởng năm 1935.

 

Chế Lan Viên

Chế Lan Viên tên thật Phan Ngọc Hoan, sinh ở Cam Lộ, Quảng Trị. Lên 7 tuổi cả nhà chuyển vào Bình Định, bút danh Mai Lĩnh, Thạch Hãn, Thạch Mai. 17 tuổi, nổi tiếng với tác phẩm Điêu tàn. Năm 1939, Chế Lan Viên ra Hà Nội học, vào Sài Gòn làm báo, lại về Huế dạy học. Khoảng 1942, ra Vàng sao, viết tập truyện ngắn Gai lửa. Sau Cách mạng tháng 8, làm báo Quyết thắng của Việt Minh Trung Bộ… Năm 1949, Chế Lan Viên vào Ðảng Cộng sản Việt Nam. Nhiều năm ông tham gia ban lãnh đạo Hội nhà văn Việt Nam, đại biểu Quốc hội các khóa 4, 5, 6, 7. Tác phẩm: Tập thơ Gửi các anh (1955), Ánh sáng và Phù sa (1960), Hoa ngày thường, Chim báo bão (1967), Những bài thơ đánh giặc (1972), Ðối thoại mới (1973), Hái theo mùa (1977), Hoa trên đá (1984).

quang-tri-nhung-cay-but-vang-danh-the-ky-20a

Nhà thơ Chế Lan Viêu và tác phẩm “Điêu Tàn”

Truyện ký: Thăm Trung Quốc (1963), Những ngày nổi giận (1967), Giờ của số thành (1967). Viết phê bình: Phê bình văn học (1962), Suy nghĩ và Bình luận (1970), Bay theo đường dân tộc đang bay (1976), Từ gác Khuê văn đến quán Trung Tân (1980), Nghĩ cạnh dòng thơ (1982).
Sau cách mạnh tháng 8, ở Quảng trị đã hình thành một dòng văn mới gắn liền với sự nghiệp kháng chiến cứu nước. Lực lượng sáng tác chủ yếu là những người quê Quảng Trị. Có những người đã nổi tiếng trước năm 1945 như Chế Lan Viên, Hồng Chương… Số còn lại là những người đi theo kháng chiến mới cầm bút mà phần lớn là thanh niên, học sinh yêu nước như Dương Tường, Lương An, Tấn Hoài, Nguyễn Khắc Thứ. Trong thời kỳ này, dòng văn kháng chiến phát triển mạnh về thể loại thơ. Thành tựu đáng kể là sự ra đời một loạt các tập thơ Gửi các anh của Chế Lan Viên, Máu lửa đồng quê của Hồng Chương…Có thể nói dòng văn kháng chiến ở Quảng Trị là một di sản quý báu. Trước hết nó phản ánh khá trung thực bộ mặt tinh thần của nhân dân Quảng Trị trong kháng chiến chống pháp. Mặt khác, góp phần tạo nên sức sống của một nền văn chương mới của nhân dân với sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Cũng từ trong thực tế đời sống chiến trường của Quảng Trị, nhiều tài năng của thế hệ nhà văn thời chống Mĩ cứu nước hình thành. Trong đội ngũ nhà văn quê Quảng Trị có một hiện tượng đáng chú ý là chính từ trong hiện thực đời sống kháng chiến chống Mĩ, một thế hệ nhà văn trẻ đã xuất hiện và trưởng thành. Đó là các cây bút Hoàng Phủ Ngọc Tường, Xuân Đức, Ngô Thị Mây, Ngô Thảo… Và sau 1975, tiếp tục làm nên đời sống văn chương của Quảng Trị vẫn là những sáng tác của các tác giả Hoàng Phủ Ngọc Tường, Xuân Đức, Lê Thị Mây, Ngô Thảo…

Hoàng Phủ Ngọc Tường
Hoàng Phủ Ngọc Tường, sinh ngày 9-9-1937 ,Quê gốc: xã Triệu Long, huyện Triệu Hải, tỉnh Quảng Trị, hiện sống ở Huế. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1978).

quang-tri-nhung-cay-but-vang-danh-the-ky-20b

Nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường và vợ nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ.

 

Hoàng Phủ Ngọc Tường từng dạy học, tham gia tích cực phong trào học sinh, sinh viên và giáo chức chống đế quốc Mỹ và chính quyền ngụy đòi độc lập, thống nhất Tổ quốc từ những năm 50. Viết văn, viết báo từ khi còn rất trẻ, từng là Chủ tịch Hội Văn nghệ Quảng Trị, Tổng biên tập tạp chí Sông Hương, Cửa Việt. Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1980 với tác phẩm Rất nhiều ánh lửa. Nhà văn đã xuất bản: Những dấu chân qua thành phố (thơ, 1976); Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn lâu (bút ký, 1971); Rất nhiều ánh lửa (ký, 1979); Ai đã đặt tên cho dòng sông (bút ký, 1985); Bản di chúc cỏ lau (1991)…* Một số bài thơ tiêu biểu: Cành Phù Dung* Tên khai sinh: Hoàng Phủ Ngọc Tường, sinh ngày 9-9-1937 tại thành phố Huế. Quê gốc: xã Triệu Long, huyện Triệu Hải, tỉnh Quảng Trị, hiện sống ở Huế. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1978).

Lê Thị Mây
Lê Thị Mây. Tên khai sinh Phạm Thị Tuyết Bông, sinh năm 1949 tại An Mô, Triệu Long, Triệu Phong,Quảng Trị.

quang-tri-nhung-cay-but-vang-danh-the-ky-20c

Nhà thơ Lê Thị Mây

Học xong phổ thông, Lê Thị Mây tham gia Thanh niên xung phong chống Mỹ. Sau giải phóng, học Trường viết văn Nguyễn Du. Làm báo từ năm 1970, đã từng là Tổng biên tập Tạp chí Cửa Việt. Thơ: Những mùa trăng mong chờ (Hội Nhà văn 1980); Dịu dàng (Hội Nhà văn ); Tuổi mười ba (Thuận Hoá, 1990); Tặng riêng một người (Văn học, 1990); Giấc mơ thiếu phụ (Quân đội nhân dân 1996); Du ca cây lựu tình (Hội Nhà văn, 1996); Khúc hát buổi tối (Thanh niên, 1999). Văn xuôi: Trăng trên cát (Thuận Hoá, 1987); Phố hoa cưới (Thanh niên 1992); Mưa ngâu ( tập bút ký, Hội Nhà văn, 1994); Huyết ngọc (truyện dài, Công an nhân dân, 1998); Bìa cây gió thẳm (tập truyện ngắn, Quân đội nhân dân, 1999).Tập thơ Tặng riêng một người được Hội Nhà văn Việt Nam trao thưởng năm 1991.

Xuân Đức
Xuân Ðức là một nhà văn sống và viết ngay trên chính quê hương của Quảng Trị. Năm 1982, cuốn tiểu thuyết đầu tay 2 tập mang tên Cửa gió của anh viết về con người và mảnh đất đôi bờ Hiền Lương đã được Hội Nhà văn trao giải thưởng.

quang-tri-nhung-cay-but-vang-danh-the-ky-20d

Nhà văn Xuân Đức

 

 

Sau 22 năm, với Bến đò xưa lặng lẽ anh cũng lấy bối cảnh ấy, cuộc sống ấy ở đôi bờ sông ấy làm đề tài và lại được giải A tại cuộc thi tiểu thuyết lần thứ hai của Hội Nhà văn. Những dòng sông quê hương đầy thương đau và phù sa cực nhọc của một thời loạn ly đã chảy thấm vào tâm hồn Xuân Ðức, xui khiến anh cầm lấy bút mà cặm cụi viết…Hơn ba chục, Xuân Ðức đã cho ra mắt bạn đọc hàng trăm tác phẩm lớn nhỏ ở nhiều thể loại, đáng kể nhất là kịch và tiểu thuyết. Ở mảng văn xuôi, sau hai tập tiểu thuyết đầu tay “Cửa gió” vừa trình làng đã “giật” giải thưởng của Hội Nhà văn, Xuân Ðức viết tiếp “Người không mang họ”, Giải thưởng Bộ Nội Vụ… rồi hàng loạt tiểu thuyết nối nhau đến tay bạn đọc như “Tượng đồng đen một chân”, “Hồ sơ một con người”, “Những mảnh làng” và “Bến đò xưa lặng lẽ”… Hiện nay, Xuân Đức hoạt động trong ngành Văn hóa-Thông tin. Ở mảnh đất đậm đặc chất sử thi như Quảng Trị, mỗi năm biết bao nhiêu sự kiện văn hóa, lịch sử, năng khiếu của kịch gia Xuân Ðức đã để lại những dấu ấn đẹp trong phong trào văn hóa địa phương. Đồng bào cả nước vẫn còn nhớ những chương trình lễ hội thấm đẫm cảm xúc được truyền trực tiếp từ Quảng Trị trên sóng Truyền hình Việt Nam như Huyền thoại Trường Sơn, Nhịp cầu xuyên Á, Liên hoan Ðường Chín xanh, Lễ hội thống nhất non sông ở đôi bờ Hiền Lương,…mà anh đã cùng các đồng chí, đồng nghiệp thai nghén, dàn dựng và trở thành “thương hiệu” tâm linh của văn hóa một vùng đất.

Ngô Thảo
Ngô Thảo được ghi nhận trong lĩnh vực lý luận, nghiên cứu phê bình văn học. Xuất phát từ một người lính yêu văn học, Ngô Thảo đi theo con đường nghiên cứu phê bình. Đối tượng phê bình của Ngô Thảo là những tác phẩm đương đại viết về chiến tranh và người lính. Trong những năm 70, đặc biệt là sau 1975, tên tuổi Ngô Thảo xuất hiện khá đều trên các báo và tạp chí. Những bài viết về các tác giả đương đại như Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Hữu Mai, Thu Bồn… khá sắc sảo.

quang-tri-nhung-cay-but-vang-danh-the-ky-20e

Nhà văn Ngô Thảo

Năm 1989, tỉnh Quảng Trị được lặp lại sau khi tách ra từ tỉnh Bình Trị Thiên. Đây là một điều kiện thuận lợi để phát triển hơn nữa đời sống văn học của tỉnh nhà. Hội văn học nghệ thuật được thành lập trong đó quy tụ những nhà văn quê hương như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Xuân Đức, Lê Thị Mây…Tạp chí Cửa Việt rồi tiếp đó Tạp chí Văn hoá Quảng Trị ra đời, sau nhập lại thành Tạp chí Cửa Việt. Những nhà văn quê Quảng Trị sinh sống, công tác nơi khác bây giờ cũng có điều kiện tham gia góp phần xây dựng phong trào văn hoá, văn nghệ của quê hương như Ngô Thảo, Lương An, Trần Quốc Tiến… Đáng chú ý là sự hình thành một đội ngũ viết văn làm thơ nghiệp dư quê Quảng Trị hoặc đang sinh sống công tác trên địa bàn tỉnh. Sáng tác của họ chiếm một phần quan trọng trên các tờ báo của tỉnh, có nội dung phản ánh trực tiếp nhiều mặt đời sống nhân dân địa phương. Trong số này nổi lên những cây bút trẻ như Nguyễn Thanh Hà, Phan Bùi Bảo Thi, Hoàng Tiến Sỹ, Đào Tâm Thanh, Y Thi… và chính những gương mặt trẻ này đang từng ngày góp phần tạo nên một lực lượng chủ chốt của nền văn học nghệ thuật Quảng Trị trong tương lai

    Gửi bình luận

    Your email address will not be published. Required fields are marked *

    CÓ THỂ BẠN SẼ THÍCH