Lịch sử làng Mai Xá Chánh

Đất nước Việt Nam ta thống nhất đã gần bốn mươi năm. Hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã lùi xa vào lịch sử. Những địa danh : Gio Linh, Cửa Việt, Đông Hà, thành cổ Quảng Trị, sông Thạch Hãn … đã trở nên rất quen thuộc đối với mỗi người chúng ta, nhưng vẫn là những tên đất gắn với những con người cần được hiểu một cách sâu sắc hơn, nhất là thông qua những tư liệu có thực về những con người có thực, với những hành động tưởng như phi thường nhưng có thực.
Cuốn sách này viết về những cái “thực” như thế về “đất và người” ở làng Mai Xá Chánh, xã Gio Mai, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, vốn là một chiến trường khốc liệt thời chiến tranh chống Mỹ do cách vùng phi quân sự về phía Nam chưa đầy 12 km, cách thành cổ Quảng Trị về phía Bắc khoảng 10km. Để bảo vệ tuyến vận tải huyết mạch đường thuỷ, nơi đây có trận bình quân mỗi nhà ở làng này phải nhận một quả bom… nhưng với những con người thông minh và anh dũng ở làng quê này, khi gặp tình thế hiểm nguy, dễ dàng hy sinh nhưng họ vẫn không hề nao núng, lại còn sáng tạo những “chiêu” lừa địch rất “ngoạn mục”, bởi “Gan Mai Xá như đá Hảo Sơn”!
Tập hợp ở đây là những hiểu biết và hồi ức kỷ niệm – được một số người thân xác nhận – của một người con Mai Xá nay sống xa quê nhưng “đất và người” ở nơi xa đó vẫn hiện lên rõ mồn một trong tâm trí nhà giáo lão thành đầy nhiệt huyết này, với một tâm hồn luôn được diễn đạt bằng thơ, dù ông đã bước vào tuổi bát thập…
Song không chỉ là những câu chuyện về thời kỳ chống Mỹ oanh liệt mà khi đọc sách này, ta cũng hiểu thêm về “đất và người” ở đây đã có một truyền thống yêu nước lâu bền – được thể hiện từ phong trào Văn Thân cho đến những hoạt động Cách mạng trước khi Đảng ta ra đời, rồi được Đảng tổ chức tiến lên giành chính quyền, và sau đó lại phải bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp và Mỹ đầy gian khổ.
Và đáng chú ý là tác giả không quên giới thiệu những gương mặt điển hình cho những con người đã vươn mạnh trong thời kỳ đất nước đổi mới, trong đó có những doanh nhân thành đạt tuy sống xa quê như tác giả, nhưng thật sự vẫn đóng góp tâm trí và cả tiền của cho việc làm thay đổi dần dần diện mạo quê hương.

9-cau-chuyen-hay-ve-lang-mai-xa9

Bởi vậy, đây cũng thực sự là nguồn tư liệu quý cho những ai muốn đi tìm chứng cứ sống động cho sức mạnh thần thánh của dân tộc Việt Nam, vốn bắt nguồn từ sự góp phần – dù lớn dù nhỏ – của từng mảnh đất và từng con người ở những làng quê cụ thể.
Trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Làng tôi -– làng Mai Xá Chánh,– xã Gio Mai,– huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị là một làng cổ Việt Nam được hình thành cách đây hơn bảy, tám trăm năm, vốn thuộc xã Mai Xá – huyện Minh Linh tỉnh Quảng Trị. Do có nhiều truyền thống đấu tranh cách mạng, yêu nước…, cảnh quan lại đẹp, phong thủy hữu tình, nên dân làng ai ai cũng yêu, người đi xa luôn nhớ tới làng.
Tuổi càng cao, tình quê càng chan chứa. Về hưu sẵn thời gian hơn nên càng có nhiều hoài niệm về tuổi thơ, về làng nước, tôi viết quyển sách nhỏ này cũng là nhằm vơi đi nỗi buồn lúc về già của một người con phải xa xứ.
Nội dung sách này phần lớn dựa vào một số tư liệu cũ, cùng với những thông tin mới thông qua các báo cáo của địa phương, chuyện kể do cán bộ, nhân dân, con em làng Mai Xá Chánh đã cung cấp.
Do tuổi cao và khả năng có hạn, nên không tránh khỏi những sai sót nhất định. Vì vậy, tôi rất mong nhận được mọi ý kiến đóng góp của bạn đọc để quyển sách này sẽ được hoàn thiện hơn, khi có điều kiện tái bản.
Tôi xin chân thành cảm ơn các đơn vị, các cơ quan, các cụ lão thành của làng, các bạn bè gần xa đã cung cấp tư liệu và động viên tôi hoàn thành quyển sách này.

Sự hình thành xã Mai Xá và làng Mai Xá Chánh.
Mai Xá xa xưa là vùng đất từ núi Cồn Tiên đến Cửa Việt An của Bộ Việt Thường, một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Thời Bắc thuộc bộ Việt Thường bị quân xâm lược phương Bắc chiếm đóng; đến đời nhà Tống, do Nhà nước phong kiến phương Bắc suy yếu, vương quốc Chăm Pa đã lấn chiếm mảnh đất này.[1]
Núi Hoành Sơn[2] là ranh giới của hai nước Việt – Chiêm. Năm Giáp Thân (1044), nhiều lần vua Chiêm xua quân ra quấy rối ở vùng biên giới. Vua Lý Thái Tông thân chinh đánh dẹp, tiến vào kinh đô nước Chiêm, chém vua Chiêm [3]. Năm 1064, người Chăm lại xua quân ra quấy rối biên giới nên năm 1069 vua Lý Thánh Tông xuống chiếu xuất quân và thân chinh đi đánh Chăm, chọn Lý Thường Kiệt làm nguyên soái, đem 5 vạn quân đi tiên phong theo đường biển. Sau nhiều trận giao tranh ác liệt, vua Lý Thánh Tông đã vào kinh đô Trà Bản (Bình Định) của Chăm. Chế Củ vua Chăm chạy trốn, Lý Thường Kiệt đuổi theo bắt được vua Chế Củ và đưa ra Thăng Long. Vua Chế Củ xin dâng ba châu. Bố chính, địa lý và Ma Linh, theo sách “Việt Nam gấm vóc” là dải đất từ Hoành Sơn tới sông Cam Lộ, nên từ đó cửa sông Cam Lộ được gọi là cửa Việt An. Châu Ma Linh sau này đổi tên là Châu Minh Linh, ngày nay là đất hai huyện Vĩnh Linh và Gio Linh . Sau khi người Chăm rút hết, năm 1075 nhà Lý xuống chiếu chiêu mộ nhân dân đến lập nghiệp ba châu nói trên. Nhiều người dân đã hưởng ứng, đa số là dân Nghệ An vào khai khẩn, làm ăn thay thế người Chăm. Mai Xá là một xã thuộc Châu
Ma Linh, sau đổi thành huyện Gio Linh, ở về phía Bắc tỉnh Quảng Trị.
Theo Ô Châu Cận Lục, từ năm 1075 đến năm 1553, qua gần 5 thế kỷ, có 65 xã được thành lập trên 2 huyện Gio Linh và Vĩnh Linh. Xã Mai Xá, là một xã được thành lập từ thời kỳ đó [4].
Theo địa bạ lập năm 1827 năm Minh Mệnh thứ 8, xã Mai Xá thuộc tổng An Mỹ, huyện Minh Linh, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
* Năm lập địa bạ: 20 tháng 9 năm Minh Mệnh thứ 8 (1827)
* Có tám phường và làng Mai Xá Chánh
Xã trưởng: Trương Danh Bính
Trương Đức Tân
Trương Đình Dụ (Thư ký)
Trương Đình Nhiệm
Trương Danh Phương
Trương Đắc Trọng
Hoàng Văn án
Lê Văn Tính
Lê Văn Lai.
Hương mục và các vị chức sắc tương đương.
Trương Đình Dật
Trương Văn Hân
Trương Đình Thuyên
Lê Văn Tôn
Nguyễn Đắc Khiêm
Bùi Văn Hịch
Lê Văn Hân
Trương Văn Duyên
Nguyễn Đăng Điều
Bùi Văn Nhậm
Lê Công Triệt
Trương Văn Nhân
Người viết địa bạ này: Trương Đình Dụ
Địa giới: Xã Mai Xá kéo dài từ biển Đông (cửa Việt Yên) đến động Cồn Tiên. Khi Lê Quý Đôn đi kinh lý về tỉnh Quảng Trị, ông có viết: “Vùng đất Minh Linh có nhiều tiêu và dầu trọc, nhiều nhất là ở làng Mai Xá Thượng”.
Bài “Giang sơn gấm vóc” ở trong Ô Châu Cận Lục, ông có viết một câu về xã Mai Xá “Cỏ thơm xã Mai Xá trải dài đến bờ vô tận”.
Tổng cộng diện tích đất đai hơn 4037 mẫu Trung bộ.
Trong đó:
a) Diện tích công tư, điền thổ, ruộng đất quan đồn điền, đất quan tam bảo là 1144 mẫu, 12 thước, 6 tấc, 7 phân.
b) Thổ trạch, nghĩa địa, đất gò hoang, đất rừng núi, rừng cỏ gianh, động Hao Hao là 2893 mẫu.
Xã Mai Xá có 139 xứ, trong đó làng Mai Xá Chánh bây giờ có 37 xứ.
Đồng Côi và đồng Sau có 19 xứ
Đồng Kênh có 9 xứ
Đồng Soi có 7 xứ
Và các xứ:
– Xứ Hà Hõm (thuộc làng Duy Phiên bây giờ)
– Xứ Bến Lội
– Xứ Tiền Đình
Xã Mai Xá hình thành cho đến nay đã khoảng 7 – 8 thế kỷ. Mai Xá Chánh là một làng lớn thuộc xã nên cũng đã tồn tại từng ấy thế kỷ.
Dưới thời nhà Mạc (1527 – 1546), xã Mai Xá thuộc Châu Ma Linh, phủ Tân Bình.
Thời Chúa Nguyễn, xã Mai Xá thuộc Tổng Bái Trời, phủ Tân Bình.
Dưới triều Nguyễn, xã Mai Xá thuộc tổng An Mỹ, huyện Minh Linh, phủ Triệu Phong tỉnh Quảng Trị.
Năm Minh Mệnh thứ 17 (1836), huyện Minh Linh rộng quá, nên chia làm 2 huyện. Huyện Minh Linh ở phía Bắc, huyện Địa Linh ở phía Nam (hai huyện này đều ở phía Bắc sông Thạch Hãn và sông Hiếu). Huyện Địa Linh lúc đầu đóng ở Kim Đâu.
Đến đời Đồng Khánh năm thứ nhất (1886), bộ máy chính quyền được củng cố lại, huyện lỵ đặt tại Hà Thanh, sau dời về Hà Thượng. Nghĩ đến câu “Nhân kiệt địa linh”, lại thấy huyện Địa Linh có phong trào Cần Vương lên rất cao, nên vua Đồng Khánh bèn đổi tên là Gio Linh [5].
Đời vua Đồng Khánh, xã Mai Xá thuộc tổng An Mỹ Hạ, huyện Gio Linh, sau đó xã Mai Xá được tách ra thành:
Làng Mai Xá Chánh ở phía dưới đường 1A
Làng Mai Xá Thượng – Bát Phường ở phía trên đường 1A.
I.2. Vị trí, địa lý, diện tích, dân cư của làng Mai Xá Chánh.
Mai Xá Chánh là một làng thuộc xã Gio Mai, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị, nằm về phía hạ lưu sông Thạch Hãn và sông Hiếu. Làng nằm hai bên đường Xuyên á, từ Lao Bảo về Cửa Việt, cách cảng Cửa Việt chừng 6 km, cách thành phố Đông Hà chừng 7km.
Phía Đông giáp các làng Hoàng Hà, Tân Xuân thuộc xã Gio Việt. Phía Nam giáp sông Thạch Hãn, làng Gia Độ, làng Xuân Thành, làng Giáo Liêm thuộc xã Triệu Độ, các làng Duy Phiên, Hà La thuộc xã Triệu Phước huyện Triệu Phong. Phía Tây giáp làng Vinh Quang Hạ, có con đường làm ranh giới hai làng. Phía Bắc giáp làng Lâm Xuân thuộc xã Gio Mai.
Mai Xá là một làng có quy mô lớn về diện tích và dân số của huyện Gio Linh, có phong thuỷ hữu tình, cảnh quan thiên nhiên giàu đẹp, tiêu biểu cho một làng quê Việt Nam, có rừng, sông, đình, chùa chợ,cây đa bến nước….
Mai Xá có 4 cánh đồng lớn, màu mỡ, nhờ phù sa bồi đắp hàng năm.
Diện tích công tư điền thổ, thổ trạch, gò hoang, nghĩa địa, đất rừng là hơn 1139 mẫu Trung Bộ.
Giao thông đường bộ, đường sông thuận lợi. Ngoài hai con sông lớn chảy qua làng là sông Thạch Hãn và sông Hiếu còn có sông Đào cánh Hòm, thuyền bè đi lại giao dịch, buôn bán dễ dàng.
Đường Xuyên á, (đường 9 Đông) khởi công từ năm 1995, năm 1997 xong chạy từ Lào men qua làng về cảng Cửa Việt, mặt đường rộng, lát nhựa dày thuận tiện cho ô tô, xe máy… đi lại, có đường liên xã (các xã Gio Mai, Gio Quang, Gio Thành) dài khoảng 15 km được rải nhựa và cấp phối, ô tô đi được, vì vậy việc đi lại làm ăn, buôn bán, công tác rất thuận lợi.
* Dân cư năm 1947 gồm hơn 334 hộ ở rải rác nhiều xóm, với số dân hơn 2.000 người.
Cuối năm 2006, số dân như sau:
Xóm Làng và xóm Soi có 536 hộ, với 2204 nhân khẩu
Xóm Kênh có 174 hộ, với 697 nhân khẩu
Xóm Ngư có 56 hộ, với 302 nhân khẩu
Tổng số hộ 766 hộ, với 3203 nhân khẩu
(Chưa kể những người dân Mai Xá nay định cư ở các nơi khác)
* Làng có nhiều họ tộc
Ngày xưa có họ Hồ (Hồ Công Khanh) thế kỷ thứ 16 (1549)(1) và 5 dòng họ Trương:[6] Trương Văn, Trương Hữu, Trương Công, Trương Quang, Trương Khắc. Ngoài ra, còn có:
+. Họ Bùi
+. 10 dòng họ Lê
+.2 dòng họ Trần
+. Họ Tạ
+. Họ Hoàng
+. Họ Phan
+. Họ Nguyễn….
* Các ngành nghề: Dân làng làm các nghề khác nhau như: Trồng lúa, hoa màu, trồng bông, dệt cói, buôn bán nhỏ, đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản.
I.3. Sự thay đổi các xã của làng qua các thời kỳ.
– Vào đời vua Đồng Khánh, Mai Xá Chánh thuộc tổng An Mỹ Hạ huyện Gio Linh.
– Từ tháng 9 năm 1945 đến năm 1949, làng Mai Xá Chánh thuộc xã Linh Hưng, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị.
– Từ năm 1950 – 1954 làng Mai Xá Chánh thuộc xã Linh Quang, Gio Linh.
– Từ năm 1955 – 1976 làng Mai Xá Chánh thuộc xã Gio Hà, Gio Linh.
– Từ năm 1977 – 1990 làng Mai Xá Chánh thuộc xã Gio Mai, huyện Bến Hải.
– Từ năm 1991 đến nay (2008) làng Mai Xá Chánh thuộc xã Gio Mai huyện Gio Linh.
Nhờ có 2 con sông tự nhiên, nằm về phía Nam làng là sông Thạch Hãn và sông Hiếu cùng với con sông Cánh Hòm, được đào từ thời chúa Nguyễn, nên hàng năm các cánh đồng làng Mai Xá Chánh nhận được phù sa làm cho đất đai luôn màu mỡ, cây cối tốt tươi, có nơi làm được hai, ba vụ. Sông ngòi nhiều tưới tiêu cho bốn cánh đồng nên hoa màu xanh tươi bốn mùa, cảnh trí hấp dẫn, không khí trong lành và mát dịu, mùa màng bội thu.

ben-dova-dinh-lang-mai-xa-di-tich-lich-su-cap-quoc-gia

Những cánh đồng làng Mai Xá
Năm 2005, theo nguyện vọng của dân làng, Ban liên lạc đồng hương làng Mai Xá Chánh ở Hà Nội gồm có ông Bùi Thế Tâm, Trương Hữu Thảo, Trương Công Nghị đã đến Viện lưu trữ Quốc gia tìm được địa bạ của xã Mai Xá lập từ năm Minh Mệnh thứ 8 (1827) và đã xin sao chép lại. Theo đó cho đến nay (năm 2008) đã gần ba thế kỷ trôi qua nên các tên xứ, tên ruộng đất có thay đổi, nhưng diện tích đất ruộng mà làng Mai Xá đang quản lý, đang ở, đang làm ăn sinh sống vẫn như xưa, chỉ có xứ Hà Hõm chuyển về xã Duy Phiên, một số đất ở Zôông chuyển cho làng Mai Xá Thị…
Những điều được trình bày dưới đây là dựa vào địa bạ năm 1827 đã nói ở trên.
Cánh đồng Côi và đồng Sau: có 19 xứ
– Xứ Cây Đa
– Xứ Ông Bùi
– Xứ Cửa Lòi
– Xứ Vọng Cung
– Xứ An Thành
– Xứ Thạch Khê
– Xứ Cửa Hối
– Xứ Long Phù
– Xứ Môi Trịnh
– Xứ Pha Dâm
– Xứ Môi Quý
– Xứ Hà Côộc
– Xứ Trung thôn ngoại
– Xứ Cửa Trù
– Xứ Hao Hao
– Xứ Bến Đò
– Xứ Bàu Đôông
– Xứ Trung Thôn
– Xứ Xung Bùi
Diện tích là: 696 mẫu 6 sào, 11 thước, 18 tấc
Cụ thể:
+ Đất công điền, công thổ: 479 mẫu 6 thước, 7 tấc
+ Đất hoang: 32 mẫu 2 sào 5 thước 7 tấc
+ Đất khô thổ: 27 mẫu 0 sào 15 thước 4 tấc
+ Đất huyền vũ: 157 mẫu 5 sào 50 thước
Vì cánh đồng này có nhiều xứ, nên được tách ra giới thiệu riêng từng cánh đồng cho chi tiết hơn.
a) Cánh đồng Côi -“Rôộc” (đất ở của làng Mai Xá)
Phía Đông giáp xóm Rôộc và phía Tây giáp làng Vinh Quang Hạ xã Gio Quang và Rú – Bầu Đôông – xóm Cát (đất ở của làng Mai Xá).
Phía Nam giáp sông Hiếu.
Phía Bắc giáp Quai Mọ và xóm lòi.
Cánh đồng Côi dài và rộng, bắt đầu từ Hà “Côộc”, Nhà Liễu ven theo phía Tây con đường Kiệt đến ngã tư Quai Mọ, vòng lên cửa Lòi, men theo phía Đông cửa Lòi, đến làng Vinh Quang Hạ, điểm tận cùng gọi là Ghe, rồi vòng về Hà Côộc, ven theo sông Hiếu.
Đất của xóm Rôộc ngày nay vốn thuộc đồng Côi ngày xưa, hết xóm Rôộc đến Bàu Năn, do xưa ở đây có nhiều cây năn; đây là một vùng đất trũng kéo dài từ Quai Mọ đến rừng nước mặn Hà Côộc, là vùng hoang hoá, nay là vùng đất màu mỡ, một năm cấy được hai vụ.

9-cau-chuyen-hay-ve-lang-mai-xaq

Lúa ở vùng này gặt vào tháng 8 nên người ta gọi là lúa Bát ngoạt.
Ngăn cách giữa Bàu Năn và Bàu Đôông là một dãy đất cao, đất thịt và đất pha cát cũng gieo trồng lúa được, người ta gọi là Nước Thây. Bàu Đôông rộng hơn 6 mẫu Trung Bộ, luôn luôn có nước ngọt vì có nguồn nước ngầm ở “troong” chảy ra.
Phía Nam Bàu Đôông là xứ ông Bùi và xứ Hà Côộc xuyên qua cánh đồng Côi có con đường liên xã Gio Mai – Gio Quang.
Đến gần Hà Côộc thì Bàu Năn chia thành hai nhánh: một nhánh chảy ra Hà Côộc, một nhánh chảy lên Ghe; cả hai nhánh đều thông ra sông Hiếu. Cánh đồng Côi gieo được hai vụ lúa: vụ hè gieo hạt trực tiếp, vụ đông gieo mạ để cấy.
Hệ thống thuỷ lợi Trúc Kinh được xây dựng từ năm 1994 đến năm 1996 hoàn thành. Nước chảy về cánh đồng Côi liên tục nên thuận lợi cho việc gieo trồng lúa, hoa màu, nhất là rau muống; rau muống không những đủ dùng cho dân làng mà còn đem bán cho thành phố Đông Hà và các làng khác nữa.
Ngày nay ở vùng Ghe và dọc theo sông Hiếu, nhiều nông dân còn đào hồ để nuôi tôm, cá…. nhưng với cách làm riêng rẽ, ít vốn, ít kinh nghiệm nên thu hoạch chưa tốt.
b) Cánh đồng Sau:
Cánh đồng này nằm phía sau làng nên gọi là cánh đồng Sau. Đoạn đường liên xã từ Đôộng Cồn Tiên về Cửa Việt qua làng Mai Xá Chánh, dân làng đặt tên là đường Bạn. Quai Mọ là ngã tư của đường Kiệt (đường chính của làng) với đường Bạn. Đường liên xã đi qua Quai Mọ lên đến quán Ngang, Cồn Tiên. Cánh đồng Sau nằm về Đông Bắc con đường Bạn, từ bến đò Kênh đến Lòi nhà Khuya. Cụ thể như sau:
Phía Đông-Nam giáp con sông Đào cánh Hòm, làng Mai Xá Thị và xóm đồng làng Mai Xá.
Phía Tây-Bắc giáp khu lăng mộ của dân làng Mai Xá và giáp Tây làng Lâm Xuân.
Trên cánh đồng này có nhiều xứ, dân làng thường gọi như sau:
Nhà Khuya, cửa Miếu, nhà Quang, Zôông, Quai Vạc, Bời Lời, Lò Rèn, Cồn Lươn, Cồn Lăng, nhà Vẻ, Hạ Biền, Trộ Sứt… Cách bến đò kênh độ 300m, phía Bắc đường Bạn có một khoảnh đất rộng bằng phẳng nhưng bạc màu (đất trồng trọt không tốt), dùng làm bãi tha ma và dân làng đặt tên là Zôông. Trên các cồn có lăng, mộ, xung quanh cồn là ruộng lúa làm 2 vụ, vụ hè và đông, đất không tốt lắm nhưng do được chăm sóc, bón phân… mùa màng nhiều khi vẫn bội thu. Ở đây có miếu thờ ngài Bùi có công với nước và các lăng mộ cổ.
Thượng, hạ Biền là vùng đất thấp màu mỡ nhất của cánh đồng Sau. Một năm làm 2 vụ, luôn luôn được mùa. Biền là ruộng sâu nên có nhiều cá, tôm. Phía cuối của Biền về phía Tây là ruộng “Nẩy”, vì ở đây đất bùn nhiều, nhão; nếu lội xuống cấy lúa mà không cẩn thận thì có khi bùn ngập đến ngực… Nhà bà Thủ Tham, ông Thủ Hoằng có 2 cái “đìa” nhỏ nhưng dài, luôn luôn có nước mạch ngầm ở động chảy ra, nước có quanh năm kể cả mùa hè nắng cháy, một năm 2 gia đình nuôi được 2 vụ cá: cá chép, cá tràu (quả), cá rô, cá trê, lươn…, nhiều con nặng đến mấy cân.
Hết ruộng “Nẩy” là vùng Nhà Khuya. Vùng này đất xấu, ngày xưa có cây lớn, cây nhỏ . Vào thời kỳ Văn Thân, tại đây có hội vườn đào tụ nghĩa làng Mai Xá đã bí mật tổ chức hội họp. Phía Bắc Lòi Nhà Khuya là vùng Bời Lời, Lò Rèn. Lò Rèn là vùng đất cứng, màu hơi đen. có thể ngày xưa ở đây có xưởng rèn để rèn gươm giáo cho quân đội.
Ngày nay, các vùng trên chỉ còn lăng mộ và là những bãi cỏ thả trâu bò. Phía Đông Lò Rèn tiếp với Biền của cánh đồng sau. Biền là giải đất thấp, hầu như có nước quanh năm (trừ những tháng hè khô cháy), bắt đầu từ ruộng “Nẩy” đến bến đò làng Lâm Xuân. Cuối Biền có các trộ lớn: trộ cửa chùa, trộ sứt, trọ Nhà Vẽ . Vùng đất này là vùng hạ lưu của Biền, về mùa mưa, nước ở các nơi chảy về đổ ra sông Đào (ngày nay gọi là sông Cánh Hòm).
Cánh đồng Kênh
– Diện tích và các xứ.
Cũng theo địa bạ năm 1827, cánh đồng Kênh gồm 9 xứ:
1. Xứ Như Thời
2. Xứ Hối Quảng
3. Xứ Bàu Nan
4. Xứ Cồn Chung
5. Xứ Tẩu Mã
6. Xứ Hà Vợt
7. Xứ Hương Tẩy
8. Xứ Bồng Vinh
9. Xứ Như Nghĩa
+ Ruộng đất công, tư điền thổ: 126 mẫu 9 sào 27 thước 5 tấc
+ Đất hoang: 3 mẫu 8 sào 7 thước
+ Đất huyền vũ: 6 mẫu 7 sào 17 thước
Tổng cộng đất đồng Kênh là: 137 mẫu 7 sào 6 thước 5 tấc.
– Địa giới: Từ làng qua bến đò Kênh là con đường xuống Cửa Việt (nay gọi là đường Xuyên á) chia cánh đồng ra thành 2 phần: phần phía Nam và phần phía Bắc. Ba phần tư ranh giới của cánh đồng là sông Thạch Hãn, sông Hiếu và sông Cánh Hòm. Cụ thể như sau: phía Đông giáp với làng Hoàng Hà, Tân Xuân, phía Tây giáp với xóm Kênh, sông Đào Cánh Hòm, phía Nam giáp với sông Hiếu, sông Thạch Hãn, phía Bắc giáp với Giáp Đông, làng Lâm Xuân.
Đây cũng là một cánh đồng rộng, một năm trồng được 2 vụ lúa, những cồn cao trồng khoai, lạc….
Ruộng nước trồng lúa 2 vụ xen kẽ giữa các cồn; có cồn cao, cồn thấp, cồn rộng, cồn hẹp, một số cồn trồng được khoai, dưa hấu, lạc… Hiện nay đồng Kênh có 35 xứ nhỏ như: Lộng, Bàu Miệu, Vang Ngải, Hang Tây, Đuôi Tôm, cồn Chung, Bơi Bơi, Hậu Miểu…
Phía nam cánh đồng tiếp giáp với sông Thạch Hãn nên hàng năm về mùa mưa lụt lại được phù sa bồi đắp, cánh đồng này lấn dần ra sông, đất màu mỡ, nhưng vì gần biển nên nước mặn hay tràn vào đồng ảnh hưởng đến mùa màng. Ngày nay. nhờ có hệ thống đê chống mặn nên ít bị thất thu, và do gần sông, gần biển, nên có nhiều vùng trũng thuận lợi cho nuôi tôm, cá như Bàu Miệu, Quéng, Bơi Bơi. Tuy nhiên, kết quả nuôi trồng thuỷ sản chưa cao vì làm ăn còn nhỏ lẻ, ít đầu tư công sức và tiền của, kỹ thuật phòng chống dịch bệnh còn kém.
ở cánh đồng Kênh, có di tích lịch sử Miếu Đông Trúc và nhiều mộ cổ.
Cánh đồng Soi
Cánh đồng Soi là một cù lao vì bốn bề là sông. Phía Tây Nam giáp với sông Thạch Hãn, phía Đông Bắc giáp sông Hiếu. Có 7 xứ:
1. Xứ Hà Lẫm
2. Xứ Hối Duệ
3. Xứ Hà La
4. Xứ Hà Dâu
5. Xứ Hà Lạc
6. Xứ Cồn Nổi
7. Xứ Cồn Nùng
+ Đất công điền. công thổ: 59 mẫu 3 sào 37 thước 7 tấc
+ Đất hoang: 8 mẫu 5 sào 7 thước
+ Đất khô thổ: 21 mẫu 7 sào 20 thước
+ Đất huyền vũ: 7 mẫu 6 sào 5 thước
+ Đất thổ ương: 16 mẫu 14 sào 8 thước
Tổng cộng ruộng của đồng Soi: 115 mẫu 0 sào 2 thước (Hơn 57,5 ha)
Xưa kia cánh đồng Soi là bãi lầy, cây cối um tùm . Đây là một vùng thuận lợi cho tôm cá sinh sống, chim cò làm tổ. Về sau, dân làng phá hoang để làm ruộng. Đồng Soi là cánh đồng tốt nhất làng vì được đất phù sa của sông Thạch Hãn, sông Hiếu bồi đắp hàng năm. Dân làng qua đồng Soi bằng đò ngang. Từ chợ đi qua con đập nhỏ ra bến đò làng, trước mặt nhà ông Xiềng, bến bên kia sông phía Tây giáp với nhà ông Sút, phía Đông giáp với nhà ông Siệc. Người chèo đò do làng chọn, mỗi năm khoán một số tiền hoặc thóc. Chiếc đò bằng gỗ, không to lắm, dài độ 5 – 6 m, chứa được khoảng 20 đến 25 người. Đò đi an toàn, về mùa gió Lào hoặc mùa mưa to, khi có bão lụt, đò không hoạt động vì khi ấy dân làng không qua đồng Soi làm lụng.
Về mùa hè nước cạn, lũ trẻ chăn trâu bò chúng tôi thường ngồi trên lưng trâu qua sông hoặc bơi qua sông. Qua bến đò, rẽ trái là nhà ông Siệc. Được làng cử làm ông “khoán”, ông Siệc có nhiệm vụ quanh năm trông coi cánh đồng. Nếu ai phá hoại mùa màng hoặc để trâu, bò ăn lúa, hoa màu thì ông có quyền bắt giữ và xử phạt. Nhờ vậy mà cánh đồng được bảo vệ an toàn suốt năm.
Từ nhà ông Siệc đi theo bờ sông về phía Đông đến Đuồi trong. Đường đi không rộng, chỉ đủ cho hai người đi bộ tránh nhau. Trâu, bò cũng đi lại trên con đường này. Mép đường bờ sông trồng dứa dại, phi lao, cây duối. Mùa hè cũng đủ bóng mát che cho người và trâu bò đi lại. Đuồi trong không rộng lắm nhưng dài, đất gồm hai phần, phần cao đa số là đất pha cát, thường để gieo mạ, trồng ngô, đậu xanh, đậu đen, khoai, dưa hấu và bông,.. Cũng ở phần đất này, thời phong trào Văn Thân, bọn giặc về đóng ở đình làng, dân không có nơi thờ cúng nên làng sang đây làm đình tạm để dâng lễ. Hết thời Văn Thân, đình dời về chỗ cũ. Hiện nay chỉ còn lại nền đình ở Đuồi.
Miền đất thấp của Đuồi trong trồng lúa, đây là vùng đất vừa ngọt, vừa mặn, dân làng chọn giống lúa đặc biệt chịu nước mặn và gió Lào gọi là lúa chiên hom. Lúa này bụi cũng cao như các lúa khác, nhưng hạt gạo màu đỏ, ăn cũng ngon nhưng hơi cứng. Trồng lúa này ít khi bị mất mùa. Ranh giới giữa Đuồi trong và Đuồi ngoài là con Đầm, Đầm không rộng lắm, nhưng dài. Mùa nước cạn thì chỉ mươi bước chân, mùa nước lớn rộng khoảng 60 – 80m. Trong đầm có rất nhiều cá, tôm, cua. Mùa nước cạn, lũ trẻ chăn trâu bò thường lấy đất đắp thành bờ rồi tát cạn nước để bắt tôm, cá… Đầm được giao khoán cho một người thầu, đóng phí cho làng hàng năm. Tuy nhiên vào dịp mồng 6 tháng 5 âm lịch, người ta thường “xả đầm” cho dân cùng bắt cá, tôm một ngày. Đuồi ngoài đất cũng rộng hơn, cũng có hai phần đất: phần cao và phần thấp. Phần đất cao trồng ngô, khoai, dưa hấu…; vùng đất thấp, cấy lúa thường và lúa chiên hom…
Cuối đồng Soi về phía Đông, nhánh sông Thạch Hãn chia đôi, bao quanh một bãi cát phì nhiêu, dân làng thường gọi là Bãi ngoài, không có người ở, chỉ có cây tre, phi lao và cỏ dại. Bãi ngoài đất bỏ hoang không trồng trọt. Từ Đuồi trong muốn sang Bãi ngoài thì phải đi bằng đò qua con lạch sâu. Về mùa hè nước cạn, lũ trẻ chăn trâu thường ngồi trên lưng trâu, cho trâu bơi qua bãi. Đây là bãi thả trâu, bò ăn cỏ lý tưởng; ăn no rồi trâu, bò tìm bóng mát để nằm, trẻ chăn trâu tha hồ vui chơi, như đánh khăng….
Từ Đuồi ngoài đi ven sông Thạch Hãn về phía Tây là Cồn Nông, Cồn Nổi rồi đến dãy đất dài hai bên sông Thạch Hãn và sông Hiếu gọi là Trấm. Trấm là vùng đất phù sa tốt, đất thổ ương dùng để gieo mạ, trồng ngô và các loại hoa màu khác… Từ Trấm men theo sông Hiếu về phía Đông là xóm dân ở, gọi là xóm Soi. Ruộng trước xóm Soi là ruộng Cửa Đình, vì ruộng nằm trước mặt đình làng. Sát với ruộng Cửa Đình là xứ Hà Dâu. Cửa Đình, Hà Dâu là một vùng đất rộng và màu mỡ hơn cả, được phù sa của sông Thạch Hãn và sông Hiếu bồi đắp. Một năm làm hai vụ: vụ hè và vụ đông, vụ tháng 3 thường thiếu nước, dân làng thường dùng xe tát nước từ sông Thạch Hãn, sông Hiếu lên. Hiện nay đều để hoang hóa vì không có công trình thủy lợi
Cánh đồng Soi màu mỡ nhất làng, nếu có điều kiện và mạnh dạn đầu tư thì chắc chắn sẽ cải thiện được kinh tế của dân làng.
Xứ Hà Hõm
+. Đông giáp xã Duy Phiên, lấy cột mốc gỗ làm mốc và giáp sông Thạch Hãn, lấy sông làm mốc.
+. Tây giáp xã Giáo Liêm, tổng An Dạ huyện Hải Lăng, lấy bờ ngăn giữa 2 xã làm mốc.
+. Nam giáp xã Duy Phiên của bản tổng, bản huyện, lấy cột mốc gỗ làm bằng.
+. Bắc giáp Trường Giang (sông Thạch Hãn) lấy sông làm mốc .
Diện tích:
Ruộng công – tư: 27 mẫu 4 sào 6 thước (trang 42)
Thổ ương : 3 mẫu 1sào 1 thước (trang 151)
Khô thổ :3 mẫu 4 sào 10 thước (trang 160)
Đồi hoang : 1 mẫu 7sào 10 thước (trang 185)
Tổng cộng là: 35 mẫu 2 sào 12 thước (hơn 17,6 ha)
Ruộng đất xứ Hà Hõm cũng tốt tươi, vì hàng năm được phù sa sông Thạch Hãn bồi đắp, đa số là trồng lúa một năm hai vụ. Xã giao cho các ông: Lê Đức Pháp, Lê Văn Sách, Lê Văn Tể, Nguyễn Quang Thi, Lê Văn Luật, Lê Văn Dưỡng… canh tác.
Sau năm 1975, vì cách sông đi lại khó khăn, khó quản nên tỉnh giao cho các xã: Duy Phiên, Triệu Phước, huyện Triệu Phong canh tác xứ Hà Hõm của làng Mai Xá .
Xứ Tiền đình
Tứ phía đều giáp sông Trường Giang, lấy sông làm mốc
Diện tích đất là 5 sào 4 thước
Xứ Cồn bến Lội
+. Tứ phía cũng đều giáp sông Trường Giang, lấy sông làm mốc
Diện tích: Tư điền, ruộng vụ hè 7 sào 5 thước
+. Đất khô thổ: 1mẫu 5 sào 7 thước
Cộng: 2 mẫu 2 sào 13 thước

Độông Hao Hao
Diện tích là: 95 mẫu 8 sào 6 thước
Xứ Bàu Đôông
Diện tích là: 6 mẫu 0 sào 11 thước
II.9. Thổ trạch (đất ở): 51 mẫu 3 sào 01 thước
II.10. Nghĩa trang: 04 mẫu 4 sào 10 thước.
Tổng cộng ruộng đất, công, tư điền thổ, thổ trạch, thổ ương, nghĩa trang, Đôộng Hao Hao, Bàu của làng Mai Xá Chánh thuộc xã Mai Xá trước kia, tính đến năm 1975 (khi đất nước Việt Nam thống nhất) là:
1. Cánh đồng Côi và Sau: 696 mẫu 3 sào 56 thước 18 tấc
2. Đồng Kênh: 137 mẫu 4 sào 4 thước 5 tấc
3. Đồng Soi: 114 mẫu 5 sào 77 thước 7 tấc
4. Xứ Hà Hỏm: 34 mẫu 16 sào 27 thước 0 tấc
5. Xứ cồn Bến Lội: 2 mẫu 2 sào 12 thước 0 tấc
6. Xứ Tiền Đình: 0 mẫu 5 sào 4 tấc
7. Đôộng Hao Hao: 95 mẫu 8 sào 6 thước 0 tấc
8. Xứ Bàu Đôông: 6 mẫu 0 sào 11 thước 0 tấc
9. Thổ trạch: 51 mẫu 3 sào 1 thước 0 tấc
10. Nghĩa trang: 4 mẫu 4 sào 10 thước 0 tấc
Tổng cộng: 1144 mẫu 7 sào 1 thước 17 tấc
(trên 573 ha)

Các xóm của làng Mai Xá Chánh
Làng Mai Xá đất rộng, người đông, sông nước bao quanh. Để quản lý được việc làm ăn, sinh hoạt, hội hè…, làng được chia ra thành nhiều xóm.
Trước năm 1947, cả làng có 8 xóm.
1. Xóm Làng (gồm xóm trên, xóm dưới, xóm đò, xóm đình): có 152 gia đình
2. Xóm Rộôc có: 56 gia đình
.3. Xóm Đồng có: 10 gia đình
4. Xóm Lòi có: 14 gia đình
5. Xóm Lò Rèn có: 11 gia đình
6. Xóm Cát có: 11 gia đình
7. Xóm Soi có: 14 gia đình

8. Xóm Kênh có: 64 gia đình

Sau 30 năm chiến tranh chống giặc ngoại xâm, các xóm của làng cũng có những thay đổi. Xóm Cát, xóm Lò Rèn hiện nay không có người ở. Từ cuối năm 2006, các xóm của làng xếp theo thứ tự 1, 2, 3… cho đến 10.
Xóm Làng cũ và xóm Soi chia thành 7 xóm, theo thứ tự từ xóm 1 đến xóm 7, với 536 hộ, 2.204 nhân khẩu.
Xóm Kênh chia thành 2 xóm: Xóm 8 và xóm 9, với 174 hộ, 697 nhân khẩu.
Xóm Ngư (mới thành lập) có 56 hộ, 302 nhân khẩu.
Tổng số hộ của làng nay là 766 hộ, với 3.203 nhân khẩu. Đó là chưa kể gần một nửa dân làng nay định cư ở các nơi khác.
Dưới đây giới thiệu về một số xóm chính của làng.
Xóm Làng (xóm trên, xóm dưới, xóm Rôộc)
Xóm Kênh
Xóm Soi
* Xóm Làng và xóm Rộôc:

Đây là những xóm chính của làng; xóm Làng ở một vị trí đẹp, sơn thuỷ hữu tình, trên vùng đất liền thổ, cao ráo, mặc dầu năm nào cũng bị lụt nhưng nhà cửa vẫn bình thường, ít khi bị ngập. Phía Đông giáp con sông Đào và làng Mai Xá Thị, phía Tây giáp với Lòi, quanh năm cây cối xanh tốt, khí hậu mát mẻ. Phía Nam giáp 2 con sông lớn của tỉnh Quảng Trị: sông Thạch Hãn và sông Hiếu. Phía Bắc giáp cánh đồng Sau.
Làng có 5 con đường chính:
+. Đường Kiệt từ phía Nam làng, bắt đầu từ chợ và đình làng Mai, kéo dài đến Quai Mọ, dài gần 1km.
+. Đường bờ sông nằm về phía Nam làng, đây là một đoạn đường 73 Đông, kéo dài từ biển Cửa Việt đến vùng Cồn Tiên.
+. Con đường liên thôn, liên xã, từ bến đò Kênh, men theo xóm Đồng của làng đến Quai Mọ lên chợ Cầu hoặc Quán ngang, được gọi là đường Bạn (ngày nay đã có nhiều con đường khác giao thông thuận lợi hơn nên con đường này ngày một nhỏ đi)
+. Con đường ranh giới giữa 2 làng Mai Xá Chánh và Mai Xá Thị, nối đường bờ sông với đường Bạn.
+. Con đường song song với đường Kiệt, nối từ đường bờ sông men theo các luỹ tre của nhà cửu Diêu, cửu Phú, xạ Hường, mục Mẽn, xạ Khanh, khoá Hài, khoá Toản, kiểm Trà, từ Tốn, ông Cương đến đường Bạn, đường này về mùa mưa khó đi vì thấp nên nước hay ngập, ngày nay là đường liên xã rải nhựa, ô tô đi được.
Làng có nhiều ngõ: ngõ thứ nhất, từ Mạc gần nhà ông Tạ Hịm đến đình làng Mai Xá Thị.
Ngõ thứ 2 từ nhà ông Trương Hữu Tâm đến nhà ông Trương Quang Côn.
Ngõ thứ 3 từ nhà ông Phụ đến nhà ông Đỉu Bang.
Ngõ thứ 4 từ nhà ông Cửu Đại đến nhà ông Trương Công Hường.
Ngõ thứ 5 từ nhà ông Cửu Phục đến nhà bà Nam.
Ngõ thứ 6 từ nhà bà Vàng đến Mạc xóm trên.
Ngoài ra có nhiều ngõ đi từ đường Kiệt ra xóm Rôộc, lên lòi Mai Xá, ở đây chỉ nói ngõ chính đi từ nhà ông từ Thanh đến nhà ông Tửu. lên lòi. Con đường này dân làng đi lại nhiều nhất, lên lòi hái củi, đi tảo mộ, đi chùa, lên đàn Văn Thánh, lấy nước ở giếng chùa.
Nói chung, các ngõ đều quanh co, nhỏ hẹp, mát mẻ vì cây cối hai bên đường đều cho bóng râm. Các đường ngõ nay đã bê tông hoá, cao ráo sạch sẽ.
Năm góc làng có 5 mạc thờ thần Hoả, địa thế của làng là vùng gió Lào hay thổi mạnh, mùa hè cây cối cháy khô, chỉ một mồi lửa là cả làng sẽ cháy rụi, nên dân
làng phải thờ thần Hoả, để thần bảo trợ cho làng. Nói chung xóm Làng là xóm đẹp nhất, trên bến dưới thuyền phong thuỷ hữu tình, có lòi nguyên sinh che chở, được phù sa của 2 con sông bồi đắp, khí hậu trong sạch vì vừa gần biển, lại gần sông. Xóm Làng là xóm trù phú, làm ăn phát đạt, học hành tiến tới, có nền văn hoá lâu đời, nhiều nhà giàu có, nhiều người đỗ đạt cao.
* Xóm Kênh
Năm 1686, sông Đào Mai Xá Chánh hoàn thành, tách xóm Kênh về phía Đông sông Đào. Xóm Kênh ngày xưa chưa đông lắm. Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, mới chỉ có 64 gia đình, ngày nay có 174 hộ, với 697 nhân khẩu, chủ yếu người thuộc 2 họ: họ Trương Hữu, họ Bùi.
Chiều dài của xóm kéo theo ven sông Đào về phía đông, từ ngã ba sông Hiếu và sông Đào đến giáp xóm Đông làng Lâm Xuân. Nhà nào cũng có vườn, nhưng không rộng, đa số trồng lúa, hoa màu, không có gia đình giàu lắm. Dân ở đây có nhiều nghề: làm ruộng, thợ mộc, thợ xây, buôn bán nhỏ, thầy cúng. Trước năm 1945, có một số người theo đạo Thiên Chúa.
Gia đình ông Thông Thản làm ăn tốt, con cháu thành đạt, gia đình ông Kèo, ông Toại cũng vào loại khá. Sau Cách mạng. trình độ học vấn cao hơn, con trẻ đến tuổi đều được đi học, nhiều em học xong đại học, có em đỗ thủ khoa như Trương Hữu Vĩ, một số đã có bằng Thạc sĩ, Tiến sĩ.
Xóm Kênh có bến đò Kênh, có đền thờ Đông Trúc từ xưa, rất linh thiêng, có mạc thờ thần Hoả. Ngày nay, xóm Kênh có thêm chợ, có chùa (ngày xưa không có), có nhà thờ họ Bùi, họ Trần, họ Nguyễn có cửa hàng đánh máy sao chụp, nhà hàng Lân Dũng, nhà hàng Hương Sen được thực khách nhiều nơi tới thăm ưa chuộng. .
Xóm Kênh phát huy truyền thống đoàn kết, giúp đỡ nhau làm ăn sinh sống đánh giặc giữ làng của Làng Mai, xây dựng quê hương giàu đẹp.
* Xóm Soi
Xóm Soi gắn liền với cánh đồng Soi là một hòn đảo nhỏ, ngày xưa cũng có nhiều nhà, nhưng nay còn ít gia đình. Các nhà làm liền nhau nằm trên bờ Nam sông Hiếu, từ bến đò Soi gần đến Trấm Cồn.
Sau nhà là những luỹ tre xanh tốt tươi, có nhiều rễ dài ăn sâu vào lòng đất nên giữ được đất, vườn tược ít bị nước xói mòn. Dân đa số là làm ruộng, một số nhỏ làm nghề chài lưới, nuôi tôm…
Gia đình ông Sút – ở về phía Tây bến đò – có bà Xuyên là một “cây hò” của làng, với nhiều điệu rất hay. Những hôm có chợ phiên, thuyền bè thường đi qua sông Hiếu. Nhiều người mời hò đối đáp, bà hò đối đáp rất hay, dân làng thường tập trung ở gò làng để nghe bà hò.
Vào thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, gia đình ông Kề đã đào hầm trong nhà, trong vườn để nuôi cán bộ du kích nhiều năm liền. Nhiều cán bộ, du kích cũng nhờ ông mới thoát hiểm.
Xóm Soi thấp lụt, cách sông đi lại khó khăn nên những năm gần đây dân xin chuyển về làm nhà ở hai bên đường xuyên á, ở vùng Đồng Côi.
 Các dòng họ ở làng Mai Xá
Làng Mai Xá Chánh thuộc xã Mai Xá, huyện Minh Linh vốn là một làng cổ, được thành lập cách đây khoảng bảy -tám trăm năm, vào thời Lý – Trần; phần lớn là dân di cư đợt một, đợt hai từ Hà Tĩnh, Nghệ An vào. Xã Mai Xá thời đó kéo dài từ động Cồn Tiên đến cửa Việt Yên. Đây là một vùng đất đẹp có núi, có đồng bằng, có biển, có rừng, sơn thủy hữu tình, nằm về phía Bắc sông Thạch Hãn và sông Hiếu. Hằng năm được phù sa bồi đắp, đất đai màu mỡ nên hoa màu bốn mùa xanh tốt. “Đất lành chim đậu”, dân các nơi kéo về sinh sống mỗi ngày một đông lên.
Lúc đầu chỉ có họ Hồ như Hồ Công Khanh, họ Trương, họ Lê, họ Bùi, về sau thêm các họ: Tạ, Hoàng, Trần, Phan, Nguyễn…
Theo địa bạ xã Mai Xá thuộc tổng An Mỹ, huyện Minh Linh, phủ Triệu Phong tỉnh Quảng Trị thành lập năm Minh Mệnh thứ 8, ngày 20 tháng 9 năm 1827, thì các dòng họ sở hữu công, tư điền thổ tại bản xã là:
+. Họ Trương : Trương Văn, Trương Khắc, Trương Danh , Trương Đức, Trương Công, Trương Đắc.
+ Họ Lê: Lê Ngọc, Lê Văn.
+. Họ Bùi: Bùi Văn, Bùi Quý
+. Họ Trần: Trần Văn, Trần Đình, Trần Doãn
+. Họ Tạ: Tạ Văn
+. Họ Nguyễn: Nguyễn Văn, Nguyễn Đắc, Nguyễn Quang, Nguyễn Đăng, Nguyễn Ngọc, Nguyễn Hữu
+. Họ Hoàng: Hoàng Công, Hoàng Văn (địa bạ, trang 53)
+. Họ Đặng: Đặng Công, Đặng Văn
+. Họ Phan: Phan Văn
+. Họ Dương: Dương Văn
+ Họ Y (1 người)
Sau khi xã Mai Xá chia ra thành hai làng: Làng Mai Xá Chánh và làng Mai Xá Thượng (bát phường) thì các họ của Làng Mai Xá Chánh là:[9]
Năm dòng họ Trương:

– Trương Văn

-Trương Khắc
– Trương Hữu
– Trương Công
– Trương Quang

Họ Bùi: 1 dòng họ
Họ Lê: Có 10 dòng họ
Họ Hoàng: có 2 dòng họ
Họ Trần: Có 2 dòng họ
Họ Tạ: 1 dòng họ
Họ Phan: 2 dòng họ
Họ Nguyễn: có 9 dòng họ
Họ Lý: Một dòng họ
Họ Võ: 1 dòng họ
Tổng cộng có 34 dòng họ
Trong đó, năm dòng họ Trương có số gia đình nhiều nhất rồi đến họ Bùi
Họ Lê và họ Nguyễn tuy nhiều dòng họ nhưng số gia đình không đông, vì có dòng họ chỉ có vài gia đình, là do các dòng họ Lê, Nguyễn từ các nơi về, không chung nguồn gốc, nên không nhập họ chung được.
Các dòng họ Trương, Lê, Bùi có từ lâu, nhưng ngày xưa chưa ghi gia phả do ít người biết chữ Hán Nôm, hoặc cũng đã ghi nhưng vì chiến tranh kéo dài liên tục nên đã bị mất mát, không lưu giữ được. Sau này có ghi lại nhưng chỉ ghi được một số đời mà thôi. Họ Trương Văn đã ghi lại cho đến nay là 23 đời. Công lao các họ tộc đóng góp xây dựng làng, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ quê hương rất to lớn, sử sách xưa nay đã nêu rõ. Phần này chỉ nêu những đóng góp chung của các dòng họ, của cá nhân, và các gia đình mà sử sách đã ghi hoặc nhiều người trong làng đã kể từ trước Cách mạng tháng 8 đến nay.
Ngày nay vẫn còn lăng mộ của Ngài họ Trương, trong địa phận làng Hà Thanh, xã Gio Châu, thuộc huyện Gio Linh, tại km 747 phía Tây đường 1A theo hướng bắc nam. Ngôi mộ có từ rất lâu, dân làng chưa xác định được Ngài họ Trương mất năm nào, vì giấy tờ bị chiến tranh thiêu huỷ. Tuy nhiên, hàng năm vào ngày mồng hai tháng chạp (âm lịch), các họ tộc của Làng Mai (kể cả Bát phường) đều về cúng lễ.

lang-mai-xa-cai-noi-cua-dat-me-quang-tri3

Không biết họ Trương tách ra thành 5 dòng họ Trương từ bao giờ, gia phả ghi bằng chữ Hán Nôm nay cũng đã bị hư hỏng, còn gia phả được dịch ra quốc ngữ thì chỉ dịch khái lược, vì thế độ chính xác thấp.
Theo dòng văn tế của làng ngày xưa, với nội dung phong phú dài, chỉ xin trích mấy câu như sau:
“ Tiền khai khẩn Trương Đại lang thụy Cương Trực lịch triều sắc tặng Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò Đoan Túc Tôn Thần”
“ Tiền khai khẩn Lê đại lang Thuỵ Minh Chính lịch Triều sắc tặng Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò Đoan Túc Tôn Thần”
“Tiền chính đề lãnh văn dũng hầu Bùi Quý Công thuỵ Bình Trực lịch Triều sắc tặng Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò Đoan Túc Tôn Thần”
Đây là ba Ngài được thờ ở Đình làng, nơi tôn nghiêm và trang trọng nhất.

(Theo Hữu Mai)

    Gửi bình luận

    Your email address will not be published. Required fields are marked *

    CÓ THỂ BẠN SẼ THÍCH