Làng Mai Xá Chánh với những gia đình tiêu biểu TK 20

Chiến tranh đã đi qua, Đất và người làng Mai Xá Chánh Quảng Trị vẫn luôn son sắt ghi nhớ công ơn của ông cha đã giày công xây dựng đắp xây cho quê hương thanh bình giàu đẹp. Bến nước, ao làng vẫn còn đó, đồng quê xanh biếc bát ngát trông xa. Đàn em vui đùa tung tăng tới lớp.. Người người, nhà nhà vẫn tảo tần khuya sớm chăm lo gia đình để cải thiện cuộc sống mưu sinh.

Hôm nay tình cờ tìm thấy tư liệu của Bloger Hữu Mai, Quangtrimailinh.com mạn phép được ghi chép lại những gia đình điển hình, những tấm gương tiêu biểu nhất của cha ông làng Mai Xá Chánh trong thế kỷ 20 như một lời tri ân, một thông điệp quý báu giúp cho thế hệ con cháu mai sau gìn giữ và phát huy truyền thống kiên cường bất khuất tranh đấu vẹn toàn bảo vệ và gìn giữ làng Mai mãi mãi xanh tươi và bền vững.

lang-mai-xa-chanh-voi-nhung-gia-dinh-tieu-bieu-tk20b

Đình làng Mai Xá Chánh nơi diễn ra các sự kiện quan trọng của làng

1. Gia đình ông Trương Quang Phiên, cán bộ lão thành Cách mạng

Ông Trương Quang Phiên là cháu cụ Trương Quang Cung, tham gia phong trào Cần Vương của vua Hàm Nghi chống Pháp. Bố ông Phiên là Trương Quang Dự cũng là dân Nho học, ông Dự có công xây dựng đàn Văn thánh của làng.
Quá trình hoạt động xã hội và tham gia Cách mạng của ông Trương Quang Phiên như sau:
Năm 1928, sau khi học xong lớp sư phạm ở Huế, được bổ làm giáo viên tiểu học ở Vĩnh Linh, tham gia Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội và làm thư ký tổ Gio Linh.

Năm 1930: tham gia hoạt động cho Đảng cộng sản Đông Dương.
Năm 1930 – 1933 : Bị tù ở nhà lao Quảng Trị.
Năm 1933 – 1935 : Quản thúc tại gia, mở lớp học tư tại “Tiên Việt Học Hiệu”, đào tạo một thế hệ thanh niên nòng cốt cho phong trào Cách mạng địa phương. Hoạt động văn hoá sôi nổi, xây dựng đội văn nghệ (ca nhạc truyền thống, kịch nói), đội thể thao, mở câu lạc bộ thơ, văn. Nhà riêng là nơi tụ tập của những người hoạt động Cách mạng và các văn nghệ sỹ, nhà văn hoá yêu nước.
Năm 1936 – 1945: tham gia hoạt động truyền bá chữ quốc ngữ và các phong trào yêu nước trong tỉnh.
Năm 1945 tham gia Mặt trận Việt Minh, tổ chức hoạt động khởi nghĩa ở địa phương. Được bầu làm Chủ tịch UBND xã Mai Xá.
Đầu năm 1946: Chủ tịch UBHC huyện Gio Linh
Năm 1946 – 1948: Phó chủ tịch UBHC tỉnh Quảng Trị, Bí thư chi bộ cơ quan cấp tỉnh,
Tháng 4 năm 1948: Tháng 5 năm 1949: Chủ tịch UBKCHC Quảng Trị, Tỉnh uỷ viên, Bí thư Đảng đoàn chính quyền
Cuối năm 1949 – đầu 1950: Tỉnh uỷ viên , Bí thư Đảng Đoàn, tham gia Mặt trận Liên Việt tỉnh.
Cuối 1950 đến hết 1953: Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính Quảng Trị, Tỉnh uỷ viên, Bí thư Đảng Đoàn chính quyền.
Năm 1954: Giám đốc Sở Tài chính Liên khu IV.
Sau ra Hà Nội công tác ở Bộ Công nghiệp.
Nghỉ hưu năm 1966: tại Hà Nội
Khi đứng đầu chính quyền Quảng Trị và trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ông Trương Quang Phiên thực hiện tốt sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc, thu hút các tầng lớp xã hội, đặc biệt là tri thức, văn nghệ sỹ, thương gia, nhân sỹ… vào công cuộc kháng chiến. Ông quan tâm nhiều đến y tế, giáo dục, văn hoá cho địa phương. Ông có công xây dựng Bệnh viện Quảng Trị tại chiến khu và mở trường phổ thông cấp hai Lê Thế Hiếu ở chiến khu Cùa.
Được Nhà nước truy tặng huân chương Độc lập năm 2009.
Phu nhân của ông Phiên là bà Lê Thị Huyền người nhanh nhẹn, phúc hậu, hiếu thảo. Trước Cách mạng tháng 8 đã tham gia bán hàng gây quỹ cho chi điếm Hưng nghiệp xã của tổ chức cách mạng. Bà sống đến 102 tuổi. Con trai cả là Trương Quang Ngô, học giỏi, đã từng làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền ở Ba Lan. Cháu Trương Quang Hoài Nam con ông Ngô hiện là Vụ trưởng Bộ Công nghiệp. . Người con trai thứ 2 là Trương Quang Đệ đã từng làm cán bộ giảng dạy đại học trong nước và nước ngoài, có hai con là tiến sỹ.

2. Gia đình ông Trương Khắc Khoan (Tú Khoan).

Ông Trương Khắc Khoan là hội viên “ Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội”, gọi tắt là “Thanh Niên”. Giữa năm 1927, chi bộ Thanh niên Quảng Trị phát triển thành 2 chi bộ, chi bộ Thanh niên của huyện Gio Linh có 5 hội viên, trong đó có ông Trương Khắc Khoan. Ông Khoan và bà Hoàng Thị ái cùng hoạt động từ năm 1927, đến năm 1929 xây dựng thêm cơ sở mới và “chi điếm Hưng Nghiệp xã” để gây quỹ cho hội.
Cuộc rải truyền đơn của Đông Dương Cộng sản Đảng từ Quảng Trị đến Bình Thuận gây ảnh hưởng lớn về Cánh mạng trong nhân dân. Khâm sứ Trung Kỳ đã ra lệnh cho mật thám lùng sục, bắt bớ hội viên “Thanh niên”. Ông Trương Khắc Khoan bị bắt và kết án 11 năm tù, đầy lên nhà tù Lao Bảo, mang số tù 433. Đầu năm 1940, mãn hạn tù trở về quê hương nhưng ông bị quản thúc tại địa phương 3 năm. Sau đó một thời gian, liên lạc được với huyện uỷ Gio Linh, ông bắt tay hoạt động phong trào Việt Minh trong thời gian phát xít Nhật nhảy vào Việt Nam
Ngày 23/8/1945, huyện Gio Linh thành lập chính quyền lâm thời. Ông Trương Khắc Khoan được cử làm Phó Chủ tịch Uỷ ban huyện kiêm Uỷ viên Tư pháp. Được cử lên Hương Hóa tổ chức nhân dân nổi dậy, ngày 25/8/1945 huyện Hương Hoá đã cướp được chính quyền. Năm 1948, ông chuyển lên công tác tại Mặt trận Tổ quốc tỉnh Quảng Trị. Ngày 16/7/1948, ông hy sinh trong trận chống càn tại chiến khu Ba Lòng, tỉnh Quảng Trị. Gia đình ông được cấp bằng “Tổ quốc ghi công”. Ông được truy tặng Huân chương Kháng chiến hạng ba. Năm 2000, ông được truy tặng Huân chương Độc lập hạng ba.
Con trai thứ nhất: Ông Trương Khắc Hoằng tham gia hoạt động cách mạng sớm, bị giặc Pháp bắt giam trước cách mạng tháng 8, ông được cử làm Chủ nhiệm Việt minh đầu tiên của làng Mai, rồi vào bộ đội, đi học lớp võ bị Trường Lục quân ở Sơn Tây.
Con trai thứ 2: Ông Trương Khắc Trại, sớm được kết nạp Đảng ở chi bộ làng Mai. Được ra Bắc học, tốt nghiệp đại học ông vào quân đội, Sau một thời gian làm việc ở Đại sứ quán Việt Nam tại Liên Xô (cũ), là Đại tá Cục trưởng Cục Xây dựng – Vật liệu Bộ Quốc phòng.
Con cháu ông Khoan đều tham gia công tác cách mạng, có trình độ văn hoá , tham gia chiến đấu và sản xuất tốt…

3. Gia đình ông Trương Quang Côn (Khoá Thặng)

Giác ngộ Cách mạng từ năm 1927, ông Côn tham gia hoạt động trong phong trào Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội từ năm 1928 đến năm 1929 ở huyện Gio Linh và tỉnh Quảng Trị. Năm 1929, tỉnh Quảng Trị có phong trào thanh niên hoạt động mạnh như tuyên truyền, rải truyền đơn, có ảnh hưởng lớn trong vùng. Ngày 13/10/1929, khâm sứ Trung Kỳ ra lệnh tìm bắt các hội viên Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội. Cụ bị bắt. Toà án Nam Triều tỉnh Quảng Trị đã đưa 37 hội viên ra xét xử. Cụ Trương Quang Côn bị kết án 11 tháng tù và bị giam ở nhà tù Lao Bảo, Quảng Trị. Ra tù, bị quản thúc tại quê ba năm, cụ về quê làm ruộng và tiếp tục hoạt động Cách mạng dưới hình thức kinh doanh tài chính cho tỉnh uỷ Quảng Trị… Ông tham gia khởi nghĩa ở xã và huyện… được cử giữ chức Chủ nhiệm Việt minh xã đầu tiên. Đêm 1/9/1945, ông đưa một đoàn cán bộ Việt Minh xã đi thuyền lên tỉnh Quảng Trị dự lễ ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố thành lập nước Việt Nam dân chủ Cộng hoà, ngày 2/9/1945.
Vì bị tù đày gian khổ nên sức khoẻ của cụ Côn ngày một kiệt sức, lâm bệnh nặng và mất năm 1948. Ngày 12/3/2008, ông được truy tặng Huân chương Độc lập hạng ba.
Gia đình ông Trương Quang Côn thuộc loại khá giả của làng Mai Xá Chánh. Con cháu đa số được học hành tử tế. Nhiều người là bác sĩ, kỹ sư… ông Trương Quang Tứ là Bí thư Chi bộ đầu tiên của xã và là một thương binh có nhiều đóng góp trong 2 cuộc kháng chiến cứu nước và trong sản xuất ở thời kỳ đổi mới của đất nước.

4. Gia đình bà Trương Công Thị Bôi

Chồng mất sớm, một mình bà Trương Công Thị Bôi nuôi 8 người con khôn lớn. Người nào cũng có gia thất đàng hoàng, cho bà nhiều cháu chắt. Xuất thân là nhà nông. từ một gia đình bình thường nghề chính là làm ruộng, về sau trở thành một gia đình giàu có nhất nhì làng, do bà có đầu óc tổ chức, biết tính toán, nắm được thời vụ, kỹ thuật… nên điều hành tốt những người giúp cầy cấy, thu hoạch. Đàn trâu có bốn năm con, và một đàn bò mấy chục con. Những ngày cao điểm về gieo trồng, cầy cấy, gặt hái phải thuê mướn vài chục nông dân có trình độ sản xuất cao. Thu hoạch hàng năm tới mấy nghìn thúng lúa (1 thúng bằng 12kg). Sẵn quan hệ tốt với nhà giàu các làng khác, những năm hạn hán mất mùa, bà đã vay họ lúa về cho dân, giúp khắc phục nạn đói cho dân làng.

Con trai bà là Trương Văn Táo sớm tham gia Cách mạng, đã bị Pháp bắt giam, nhưng khi được ra tù về làng đã mở quán bán hàng “Chi Điếm Hưng Nghiệp Xã” – gây quỹ cho Cách mạng. Sau Cách mạng tháng 8, ông là cán bộ công an của tỉnh Quảng Trị, nhưng vì sức yếu nên về làng nghỉ và làm nghề thuốc bắc, chữa bệnh cho dân làng. Bà Trương Công Thị Kinh, vợ ông là nông dân. đã tích cực tham gia hoạt động trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước: trong nhà có hầm bí mật nuôi cán bộ, hầm có nhiều ngách, hai cửa ra vào kín đáo. Không chỉ là nơi liên lạc của cán bộ, bộ đội, nhiều bộ đội chủ lực, dân quân du kích đã ăn, ở tại nhà bà. Là cơ sở Cách mạng tin cậy, bà đã cứu được nhiều cán bộ du kích thoát chết như ông Vàng bộ đội tình báo, ông Trương Hữu Trọng xã đội trưởng, ông Lượng, ông Tráng cán bộ xã. Bà được thưởng Huân chương Kháng chiến hạng nhì và gia đình được công nhận là cơ sở cách mạng. Con cháu bà đều làm ăn tốt, học hành giỏi, có nhiều cử nhân, thạc sỹ…

Người con trai thứ hai Trương Văn Bột là nông dân thực sự, tham gia cày, cấy, quản gia đình. Tuy làm lý trưởng, nhưng ông có công cứu làng khỏi vụ tàn sát đốt phá của giặc Nhật. Đó là lần du kích, tự vệ của làng tập ném lựu đạn từ gò ra sông. ông Trương Công Tự ném đá trúng đò của lính Nhật đi từ Cửa Việt lên Đông Hà nên lính Nhật kéo cả tiểu đội lên bờ lùng bắt kẻ ném đá. Ông Bột chạy về nhà mang quần áo lý trưởng, rồi ra gò gặp lính Nhật. Chúng hỏi ông, ông có phải lý trưởng không? Ông trả lời phải. Bọn lính lại hỏi ông biết người nào ném đá vào thuyền không? Ông trả lời không biết nhưng nhận rằng đây là thuộc làng Mai Xá Chánh, người ném phải là người làng. Lính Nhật ra lệnh sau ba ngày làng không nộp người ném đá thì sẽ đốt hết làng… Ông đồng ý và đúng trong 3 ngày đã tìm được cách giải thoát trước sĩ quan Nhật, cứu được làng khỏi bị tàn phá.

5. Gia đình ông Lê Văn Mẽn (Mục Miễn) và bà Bùi Thị Ngạnh

Thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, gia đình ông Lê Văn Mẽn gồm 4 thế hệ:
+ Thế hệ 2: ông bà Miễn sinh ra 8 con (5 nam, 3 nữ)
+ Thế hệ 3: 13 cháu (7 nam, 6 nữ)
+ Thế hệ 4: 15 chắt (7 nam, 8 nữ)
Tổng số thành viên trong gia đình : 38 người (20 nam, 18 nữ; không kể dâu, rể, cháu dâu, cháu rể…).
Các thế hệ thứ 2 và thứ 3 của gia đình đã đóng góp nhiều thành tích trong sản xuất và chiến đấu.
* Có 3 đại tá và 2 trung tá:
Đại tá Lê Đăng Việt (thời kỳ chống Pháp và Mỹ) là liệt sỹ (1)
Đại tá Lê Đăng ánh (thời kỳ chống Mỹ)
* 12 thành viên có bằng đại học trở lên (1 tiến sĩ và 1 thạc sĩ), trong đó có:
Đại tá – tiến sĩ Lê Đăng ánh, Phó Viện trưởng Viện Đất hiếm thuộc Viện Nguyên tử Việt Nam.
Con út là Lê Thị Hoè đã tham gia tích cực trong thời gian kháng chiến chống Mỹ cứu nước, công tác bí mật và công khai, nhiều năm làm Bí thư chi bộ làng, lãnh đạo quần chúng đấu tranh với giặc, củng cố cơ sở Đảng, củng cố chính quyền, chỉ đạo đội tự vệ, du kích đánh nhiều trận khiến giặc lo sợ, co cụm lại, không ngang nhiên đàn áp nhân dân như trước.
Liệt sĩ, đại tá Lê Việt vốn đã tham gia đội tự vệ của làng và xã rất sớm, rồi đi bộ đội, thuộc trung đoàn 95, bị tai nạn trên đường đi công tác.
Ông cả là Lê Minh, tham gia Cách mạng trước ngày khởi nghĩa, là sĩ quan cao cấp của Quân đội nhân dân Việt Nam.

6.Gia đình ông Bùi Văn Thuý

Ông Bùi Văn Thuý đỗ bằng tuyển sinh, thời Pháp thuộc được dân làng Mai bầu làm lý trưởng. Song ông tham gia Hội Cứu tế đỏ – phong trào Việt Minh ở làng Mai và huyện Gio Linh. Tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở làng Mai, ông được cử làm Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Cách mạng lâm thời Mai Xá Chánh, và được bầu vào Hội đồng nhân dân xã Linh Hưng, làm Chủ tịch xã Linh Hưng, đảng viên Đảng Cộng sản.

Gia đình ông Thúy nhiều con trai đi bộ đội, cấp bậc cao trong quân đội. Con cháu học hành tốt, có một con trai là giáo sư – tiến sỹ. Các con ông:
– Đại tá Bùi Tô Khuyến là cán bộ tiền khởi nghĩa, năm 1946 Hiệu trưởng trường tiểu học Mai Xá – Uỷ viên Ban Giáo giới tỉnh Quảng Trị, sớm nhập ngũ, là Trưởng ban tuyên huấn trung đoàn 95… Sau là Chủ nhiệm khoa Văn hoá học Viện Chính trị – Quân sự, và từng là bộ đội tình nguyện ở Lào.

– Đại tá Bùi Thế Tâm, tham gia Cách mạng tháng 8/1945. phụ trách đội Thiếu niên cứu quốc làng Mai Xá Chánh, ủy viên Ban chấp hành Thanh niên cứu quốc xã Linh Hưng, Chánh văn phòng huyện uỷ Gio Linh – Phó Bí thư huyện uỷ…, Chủ nhiệm Cục Hậu cần Mặt trận Đường 9 Khe Sanh năm 1968, Đảng uỷ viên Đảng uỷ Bộ tự lệnh Trường Sơn, Cục trưởng Cục Kinh tế Bộ Quốc phòng, về hưu (hưởng lương Thiếu tướng).

Thượng úy Bùi Ngọc Thanh liệt sỹ, hy sinh năm 1966 tại chiến trường Quảng Trị – Đảng viên Đảng Cộng sản.
Giáo sư – tiến sĩ Bùi Thế Vĩnh, đã từng dạy ở trường Đại học Phương Đông (Cộng Hoà Dân Chủ Đức), rồi làm việc ở Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng Chính phủ. Hiện nay là Viện trưởng Viện Hành Chính thuộc Học Viện Hành chính Quốc gia.
Cử nhân Bùi Công Hữu, phụ trách Công ty văn hoá Quảng Ninh, Phó Chủ nhiệm công nghiệp thủ công nghiệp tỉnh Kiên Giang, Đảng viên.
Ông Bùi Luyện bị giặc bắt thủ tiêu.
Liệt sĩ Bùi Giang Ngạn.

7. Gia đình ông Trương Công Tiển (chánh Tiển)

Sinh năm Mậu Tý, ông Trương Công Tiển làm chánh tổng trong thời kỳ Pháp thuộc nhưng không có nợ máu với nhân dân. Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, ông bị bắt giam 2 lần vì đã tham gia Cách mạng và có nhiều con, cháu đi kháng chiến. Ông mất năm 1965. Các con ông nhiều người thành đạt.

Con trai cả là Trương Công Hoán, sinh năm 1911. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, làm công an tỉnh Quảng Trị, Trưởng công an huyện Triệu Phong. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, ông làm Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân khu vực Vĩnh Linh. Ông về hưu ở Đông Hà.

Con thứ hai là Trương Công Địch, sinh năm 1914. Trong kháng chiến chống Pháp làm Bí thư Đảng ủy xã Linh Quang kiêm Phó Bí thư huyện uỷ Gio Linh. Năm 1955, chuyển ra công tác ở Hải Dương. Năm 1965, đi B vào Quảng Trị công tác tại Ban kinh tế của tỉnh. Năm 1968, chết vì tai nạn và được công nhận là liệt sĩ, có con là tiến sĩTrương Công Đờn, dũng sĩ diệt Mỹ Trương Công Thu.

Con trai thứ 3 là Trương Công Đồng, sinh năm 1916. Trong kháng chiến chống Pháp làm Trưởng ty Văn hoá – Thông tin tỉnh Bắc Giang. Trong kháng chiến chống Mỹ, làm Bí thư huyện uỷ Gio Linh, Trưởng ban tuyên huấn tỉnh uỷ Quảng Trị. Từ 1965 đến năm 1974, làm uỷ viên phái đoàn Đại diện Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tại Hà Nội.

Con thứ 4 là Trương Công Huỳnh, sinh năm 1922, tham gia Cách mạng trước năm 1945. Trong kháng chiến chống Pháp làm Phó Ty công an tỉnh Quảng Trị, Trong kháng chiến chống Mỹ, làm Phó ty Công an tỉnh Quảng Bình. Năm 1963, đi B và T4 (là tiền thân ngành công an thành phố Hồ Chí Minh), làm Trưởng ban điệp báo Phân khu 5, Thường vụ Thành ủy thành phố Sài Gòn Gia – Định. Năm 1968, vì có chỉ điểm nên bị bắt giam , giặc tra tấn đến chết ở quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.

Con trai thứ 5 là Trương Công Tiêu , sinh năm 1926, sớm tham gia bộ đội, được phong quân hàm Đại tá, về hưu được hưởng lương Thiếu tướng, là một trong năm người được Nhà nước công nhận là “Cán bộ khởi nghĩa” của làng Mai Xá Chánh.

8.Gia đình ông Trương Hữu Tạo

Có ba con trai, đều tham gia kháng chiến:

Con cả Trương Hữu Thông là giáo viên thời Pháp thuộc. Trong kháng chiến chống Pháp là cán bộ của Uỷ ban kháng chiến huyện Gio Linh. Trong thời kỳ chống Mỹ cũng tham gia công tác Cách mạng, được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng Nhất.
Con thứ hai là Trương Hữu Tần, tham gia Cách mạng trước tháng 8/1945, bán hàng cho “Chi điếm Hưng nghiệp xã” gây quỹ hoạt động Cách mạng, là Đảng viên, Trưởng ban thông tin, tuyên truyền xã Linh quang, bị địch bắt giam rồi thủ tiêu, được công nhận là liệt sĩ, nay chưa tìm thấy mộ.
Con thứ ba là Trương Hữu Thảo, 50 năm làm nghề dạy học, Hiệu trưởng cấp 3 Bổ túc van hóa thiếu niên và trường PTTHDL Nguyễn Huệ, Hà Nội, là nhà giáo ưu tú, nhà thơ… Nhiều học sinh của ông trưởng thành, có người là Uỷ viên Bộ chính trị, có người là Chủ tịch, Phó chủ tịch tỉnh, có nhiều người là tướng, tá, giáo sư, tiến sĩ.
Các cháu ông Tạo đều được học hành tử tế, cháu ngoại Trương Thị Hai là Tỉnh ủy viên bí mật tỉnh Quảng Trị, cháu Trương Công Đờn là Tiến sĩ.

9.Gia đình ông Cửu Diêu

Cách đình không xa về phía Nam là nhà ông Cửu Diêu (Bùi Diêu), nhà vào lớp trung lưu, đông con. Các con đều tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ: ông Hưu tham gia chống Pháp rất sớm, ông Liệu được ra miền Bắc học đỗ bác sĩ, đi B lâu năm, sau ra Bắc, làm Trưởng khoa Vật lý trị liệu bệnh viện Hữu Nghị, là thầy thuốc ưu tú. Ba con gái đều tham gia công tác phụ nữ thôn, xã: Chị Bùi Thị Lịch ra Bắc học tập, công tác có nhiều thành tích, con cái chị đều trưởng thành, học tập, công tác tốt, đều là cử nhân, kỹ sư.

10. Gia đình ông Trương Quang Kỉnh

Gia đình vào loại trung bình trong làng, con không đông lắm. Trong cuộc chống Mỹ cứu nước, vợ ông có nhiều thành tích đóng góp vào việc bảo vệ chính quyền Cách mạng, bảo vệ làng xóm.
Con gái Trương Thị Hưng là một cô gái tiêu biểu về thông minh, gan dạ, đã lập được nhiều chiến công. Dân làng thường gọi là “Cô một” trong bảy cô gái của làng đã vào sinh ra tử, lãnh đạo chi bộ, chính quyền, tự vệ của làng, của xã chống giặc Mỹ và bè lũ tay sai. Cô được đề bạt làm huyện đội phó, lập nhiều chiến công, hiện nay tuổi già sống ở thành phố Huế.
Con trai Trương Đình Thạc được ra Bắc học tập, học Đại học ở Pháp và trở thành Tiến sĩ. Thông minh, học giỏi, ông Thạc công tác ở Viện hóa, nay về hưu ở Hà Nội, vợ là Hiền bác sĩ, có 2 người con đều học giỏi.

11. Gia đình ông Lê Nu

Có con trai là Lê Côn, du kích thông minh, đánh giặc giỏi. Sau hòa bình làm Chủ nhiệm Hợp tác xã. Cháu ông Nu cũng tham gia du kích đánh giặc rất gan dạ. Hiện nay anh Lê Thái làm Bí thư chi bộ Đảng làng Mai Xá Chánh

12. Gia đình ông Trương Công Mỹ (Cửu Mỹ)

Sau nhà ông Cửu Diêu là nhà ông Trương Công Hy, con ông Cửu Mỹ. Là một nhà Nho học thông minh, ông thường viết câu đối cho bà con nhiều nơi trong huyện. Ba con trai là Trương Công Hy, Trương Công Cương, Trương Công Tài đều có trình độ học vấn cao, tài kinh doanh , rất giàu có. Ông Hy làm thầu khoán thời Pháp thuộc, sau buôn bán, vận chuyện hàng hóa khắp nơi. Có con trai là Trương Công Nghệ Tiến sĩ Toán, con gái là Tân Nhân, nghệ sĩ ưu tú. Trong kháng chiến chống Mỹ, các ông Hy và Cương sống trong vùng tạm chiến, buôn bán, làm thầu khoán, nhà giàu mở Công ty Bảo hiểm. Thời kỳ kháng chiến chống Pháp, địch đóng đồn trên nền đất nhà ông Hy.

13. Gia đình ông Cửu Phú

Gia đình làm ruộng, vào loại bậc trung của làng, có nhiều con trai.

Con trai đầu là Trương Khắc Tá, hoạt động Cách mạng bí mật, bị giặc giam một thời gian. Chuẩn bị khởi nghĩa, ông tham gia tự vệ, dẫn đầu đoàn quân lên cướp chính quyền ở huyện Gio Linh, sau vào Vệ quốc đoàn, làm huyện đội trưởng, ông là một trong 5 người của làng được công nhận là “cán bộ tiền khởi nghĩa”, sống gần 100 tuổi thì mất. Ông có con gái là Trương Thị Hai (Tường), một cốt cán của xã, huyện, gây dựng phong trào kháng chiến chống Mỹ, được bầu làm Tỉnh uỷ viên bí mật của tỉnh Quảng Trị, Chủ tịch Hội phụ nữ tỉnh. Ba con trai và con gái của ông Tá đều tham gia kháng chiến chống Mỹ, hai người là đại tá, thượng tá của lực lượng công an nhân dân.
Con trai thứ hai là Trương Khắc Đào trong thời kháng chiến chống Pháp làm Bí thư Chi bộ, trong thời kháng chiến chống Mỹ lập được nhiều thành tích, tốt nghiệp Đại học, làm cán bộ tỉnh.
Con trai thứ ba Trương khắc Ba tập kết ra Bắc, tốt nghiệp Đại học, về làm Hiệu trưởng cấp 3 tỉnh Quảng Trị, sau làm Trưởng Phòng Giáo dục huyện ở thành phố Hồ Chí Minh

14. Gia đình ông Xạ Nghĩa

Vào loại trung lưu, gia đình có người biết kéo đàn nhị và thổi kèn trong các buổi lễ. Ông có 2 con trai tham gia Vệ quốc đoàn sớm là ông Quyền và ông Trành. Con ông Quyền là Trương Công Thế, Đại tá – Phó tư lệnh vùng 3 Hải quân. ông Trành ở trung đoàn 95, gan dạ, đánh giặc giỏi, nghỉ hưu tại thành phố Đồng Hới.

15.Gia đình ông Trương Khắc Tặng

Gia đình làm nghề nông, đủ ăn. Ông Tặng tham gia kháng chiến tích cực. Con cái của ông đều trưởng thành. Con trai là Trương Khắc Tài đỗ cử nhân, làm giám đốc công ty bảo hiểm của tỉnh.

16. Gia đình ông Cửu Đỉnh

Làm ruộng, có học, ông Cửu Đỉnh là người thông minh, ăn nói sắc sảo. Ba con trai, học giỏi là:
Con cả ông Trương Công Hốt là người học giỏi, đàn hát hay. Những tháng nghỉ hè, ông về làng dạy học, dạy rất hấp dẫn.
Con thứ 2 ông Trương Công Cẩn, làm nghề dạy học. Đầu Cách mạng tháng 8, ông phụ trách đội tự vệ.
Con thứ 3 ông Trương Công Ngoãn cũng học giỏi, có tài hoa. Những năm đầu Cách mạng tháng 8/1945, ông phụ trách đội thiếu niên và nhi đồng của làng, phụ trách tờ báo tường của thanh niên. Sinh hoạt đội dưới sự dìu dắt của ông rất vui, sôi nổi, khó quên. Kháng chiến chống Pháp, ông gia nhập Vệ quốc đoàn .Con gái Trương Thị Con (Trương Công Thị Hài) gần 100 tuổi, sống với con ở thành phố Đà Nẵng; trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, bà đã lập được nhiều công lớn, được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến.

17. Gia đình ông Xạ Khanh

Sau lưng nhà ông Cửu Phú là nhà ông Xạ Khanh (Trương Quang Khanh), biết xem tướng số, xem địa lý giỏi. Ông có con trai là ông Trương Quang Sãi, nhanh nhẹn, thông minh. Sớm vào Vệ quốc đoàn, chịu khó học tập, rèn luyện được phong hàm Đại tá, nhà giáo ưu tú. Khi học Đại học, có nghiên cứu về thần học, nắm được thiên văn, địa lý… nên khi về hưu ông giúp nhân dân chữa bệnh, xem mồ mả, nhà cửa. Em trai là ông Trương Quang Trần, làm Chủ tịch công đoàn Công ty cao su Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai. Hai con trai ông Trần làm ăn tốt, có triển vọng. Em gái ông Sải lấy chồng người ở làng là Bùi Văn Bỉ, hiện là Trưởng làng của làng Mai Xá Chánh. Con ông Bỉ là Bùi Văn Thái làm ăn tốt, một kỹ sư xây dựng kinh doanh giỏi, đã góp tiền xây đình và các công trình khác của làng.

18. Gia đình ông Trương Hữu Tâm

Sau nhà ông Trương Quang Phiên là nhà ông Trương Hữu Tâm, gia đình nông dân, có con trai là Trương Hữu Trường tích cực tham gia công tác Cách mạng, được bầu làm Bí thư Đảng uỷ xã Gio Hà, sau công tác ở huyện Gio Linh, về hưu làm Bí thư chi bộ làng Mai Xá Chánh, được cử làm Trưởng ban biên tập cuốn Lịch sử làng và lịch sử Đảng bộ xã Gio Mai. Cháu nội ông Tâm là Trương Thị Bé, một giáo viên dạy toán giỏi, luyện thi Đại học nổi tiếng ở thành phố Đông Hà.

19. Gia đình ông Trương Công Trác (Phấn)

Con ông là Trương Công Trọng tham gia 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Ông Trọng vào Vệ quốc đoàn rất sớm vào sinh ra tử. Trong kháng chiến chống Pháp, gia đình đã giúp đỡ cán bộ, tự vệ tích cực, là đầu mối giữa dân làng với cán bộ hoạt động bí mật. Tập kết ra Bắc, ông Trọng được học tập và công tác và trở thành cán bộ tốt của Đảng và Chính phủ

20. Gia đình bà Hôi

Gia đình bà Hôi sinh ra một người con gan dạ, anh hùng là ông Trương Công Hám. Là một tự vệ thông minh, xông xáo, đã đặt mìn, bom ở bến đò Kênh, Quai Mọ giết được nhiều địch, ông Hám đã liều mình nhảy lên hầm bí mật, đánh lạc hướng quân giặc để cứu Chủ tịch và một số cán bộ xã, chính nhờ vậy nhiều tài liệu quan trọng khỏi rơi vào tay giặc. Dân làng rất tôn sùng, gọi ông Hám là ông“Lê Lai”.

21. Gia đình ông Trương Hữu Que

Là một gia đình nông dân nghèo đông con, ông Trương Hữu Que rất gan dạ, khi bị giặc Pháp giam ở đồn Nhỉ Hạ (Gio Linh), chúng tra tấn cực kỳ dã man, trói cả 2 tay, 2 chân treo ngược lên xà nhà nhưng ông vẫn không khai, chúng đành phải thả ông về nhà. Hai bàn tay, 2 bàn chân đều thối rữa, nên một thời gian sau ông chết. Cháu nội là ông Trương Hữu Bình sau khi đi chiến trường K về, tham gia sinh hoạt ở địa phương, giữ chức vụ Chủ tịch UBND xã, Bí thư Đảng ủy xã nhiều nhiệm kỳ.
22. Gia đình ông Thủ Hoằng (Trương Công Hoằng)

Làm nghề nông với quy mô lớn, giàu nhất, nhì làng Mai, nhà ông Thủ Hoằng có nhiều ruộng tư, công. Đàn trâu, bò có vài chục con, ngày mùa người làm lên đến mấy chục người. Trước Cách mạng tháng 8/1945, hàng năm thu về gần 1500 thúng lúa. Giàu có là nhờ biết cách làm ăn, biết cách điều hành, nắm được thời tiết để gieo hạt, cấy lúa…Nhờ làm ăn phát đạt nên cũng giúp được nhiều dân làng, tạo điều kiện cho nhiều nông dân nghèo có nơi làm ăn, ổn định được cuộc sống gia đình.
Con ông là ông Trương Công Thú, làm trưởng làng Mai Xá một thời gian dài, đóng góp nhiều vào việc xây dựng làng văn hoá, nếp sống văn minh, cách làm ăn, sinh sống của dân làng, đề xuất xây lại đình, chùa của làng.

23. Gia đình ông Trương Quang Biền (tức Trợ Biền)

Trợ Biền là một người có học thức, ông dạy trường làng, trường huyện, nhiều con cháu làm ăn khá giả. Con cả là ông Trương Quang Minh được học ở Đức, thông minh, học giỏi, tốt tính, về nước ông làm ở Viện hoá. Con ông cũng học giỏi;
Con trai thứ là ông Trương Quang Trung làm đến Vụ trưởng, sau ngày giải phóng cũng tích cực giúp làng một số việc về kinh tế, sản xuất…
Ông Trương Quang Thiện là em ông Trợ Biền, tham gia phong trào Việt Minh sớm, tập kết ra Bắc.

24. Gia đình ông Cửu Đại (Trương Công Đại)

Gia đình tương đối giàu, ông Cửu Đại chuyên làm nghề nông, tích cực tham gia các hoạt động xã hội, đạt tới chức cửu phẩm.
Khi con đến tuổi đi học, thường mời thầy về nhà dạy. Vợ là Trương Hữu Thị Luận cũng hoạt động xã hội tích cực. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, bà là một đảng viên hoạt động bí mật. Ông có 2 con trai, con cả là Trương Công Ngô bị giặc Pháp bắt, ngồi tù ở đồn Nhỉ Hạ, bị tra tấn dã man rồi chúng bắn chết.
Người thứ hai ông Trương Công Nghị tập kết ra Bắc. Được Nhà nước cho ăn học, nhờ nỗ lực, quyết tâm, ông tốt nghiệp Đại học được cấp bằng kỹ sư. Trước khi về hưu ông là Phó Tổng giám đốc Công ty dệt may Hà Nội.

25 Gia đình ông Chánh Chài (Trương Quang Chài)

Là một gia đình đặc biệt, dù làm Chánh tổng nhưng nhà ông vẫn nghèo. Sau Cách mạng tháng Tám ông tham gia công tác xã hội, làm Chủ nhiệm Việt minh. Hai con gái tham gia kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ rất dũng cảm, gan dạ, lập được nhiều công
Bà Trương Thị Bền là đảng viên, làm công tác phụ nữ, nhiều lần bị bắt, tra khảo dã man nhưng khi ra tù chị vẫn tiếp tục hoạt động trong vòng giám sát của kẻ thù. Năm 1973, bà Trương Thị Bền đã phát biểu với đồng chí Tố Hữu về dự mít tinh với xã Gio Hà mừng sự kiện Hiệp định Paris đã đựơc ký kết: “Gan Mai Xá như đá Hảo Sơn

Con gái bà Trương Thị Bình và người con rể là Khải, cũng là những du kích, những tình báo viên gan dạ.
Bà Trương Thị Con là em của bà Bền, làm dâu nhà ông Lê Miễn, chồng đi bộ đội, chị ở nhà. Ngoài việc chăm lo gia đình, chị cũng tham gia ủng hộ kháng chiến. Trong một buổi tối, dưới ánh trăng lờ mờ, đang đi quyên góp thuốc, gạo, tiền cho thương binh… thì chị bị giặc bắn chết.

26. Gia đình ông Bộ Luân

Gia đình vào loại trung lưu, ông được học Nho từ sớm, thường tham gia làm câu đối ở đình làng hoặc các nơi quan trọng khác. Là người am hiểu pháp luật nên khi dân có kiện tụng đều nhờ ông giúp đỡ. Con trai ông là liệt sĩ Trương Công Hành chiến đấu gan dạ, thông minh, hy sinh trong trận đánh đồn Ba Đồn, Quảng Bình.

27. Gia đình ông Khoá Lượng (Bùi Lượng)

Vợ ông là bà Dơi làm nghề nông và buôn bán nhỏ, nhà bà có 2 con trai học giỏi, tài năng và chí lớn, đó là ông Bùi Kiểu và ông Bùi Cao. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp chín năm, hai ông đã lập công lớn. ông Kiểu học giỏi, thông minh, được ta cài vào hàng ngũ địch làm thông ngôn, đã tham gia vụ binh biến ở Đông Hà. Ông Cao làm trinh sát bị giặc bắt giam và bắn chết ở đồn Nhỉ Hạ, hai ông đều được công nhận là liệt sỹ.

28.Gia đình ông Trương Quang Hài (Khoá Hài)

Nhà không giàu nhưng kinh tế cũng khá đủ. Con trai ông là Trương Quang Niệm tập kết ra Bắc. Tốt nghiệp đại học, ông dạy ở trường Đại học Thương mại, Trưởng phòng đào tạo, được phong danh hiệu nhà giáo ưu tú.

29. Gia đình ông Bùi Toản (Khoá Toản)

Nhà ở giữa làng, xung quanh có luỹ tre già bao bọc, là một địa điểm dấu quân du kích thuận lợi. Trong 2 cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ, nhiều lần gia đình ông đã tạo điều kiện cho du kích, biệt động của địa phương, của huyện nằm trong nhà để phục kích giặc, bắn pháo vào đồn, diệt được nhiều tên.

30. Gia đình ông Bùi Phác (Cửu Vòi)

Gia đình trung nông, cuộc sống khá giả, có nhiều con, cháu tham gia cán bộ, bộ đội, công an:
Ông Bùi Ban tham gia cách mạng sớm, làm cán bộ xã, sau làm Phó chủ tịch UBKCHC huyện Gio Linh. Liệt sĩ Bùi Tăng, tham gia Vệ quốc quân sớm, là bộ đội tình nguyện và hy sinh tại Lào. Ông Bùi Thưởng cán bộ miền Nam tập kết, có con là liệt sĩ, được tặng nhà tình nghĩa lần đầu tại thị xã Đông Hà.
Hai cháu nội là Bùi Văn Biên và Bùi Văn Bôn đều là đại tá công an nhân dân.

31. Gia đình ông Trương Văn Ưng (Từ Ưng)

Là gia đình nông dân thực sự, ông và con cái đều tham gia Cách mạng. Con trai là Trương Văn Trỉ vào Vệ quốc đoàn rất sớm, thuộc trung đoàn 95, chiến đấu gan dạ, nay về hưu ở quê nhà.

32. Gia đình ông Tích (Bùi Tích)

Là gia đình nông dân, con cái đều tham gia Cách mạng. Con trai là Bùi Thể được ra Bắc học. Tốt nghiệp đại học, làm Phó chủ tịch UBND huyện Bến Hải, Quảng Trị

33. Gia đình ông Thợ Con

Ông làm nghề cắt tóc, con trai ông là Lê Ninh cũng là một cán bộ cốt cán của tỉnh, nay về hưu ở Đông Hà.

34. Gia đình ông Từ Đinh (xâu)

Con cái đều tham gia Cách mạng, có ông Hưng là cử nhân, làm Trưởng phòng ở Sở giáo dục Quảng Trị.

35. Gia đình ông Thủ Mua (Trương Hữu Mua)

Gia đình làm nghề nông, mức sống trung bình. Là người hiền lành, được dân làng Mai Xá cử làm thủ bộ trong một thời gian, ông Thủ Mua có nhiều con trai, con gái. Trong một trận càn lớn của giặc Pháp, ba con ông đang cày ruộng ở cánh đồng Kênh thì bị bắt xuống chợ Hôm tra tấn rồi bắn chết cùng một số người dân vô tội khác. Các cháu của ông Mua cũng tham gia chiến đấu chống Mỹ cứu nước, xây dựng kinh tế đổi mới quê hương. ông Trương Hữu Đẳng là một người thông minh, có bằng cao học, dạy môn vật lý cấp III, nay là Phó Hiệu trưởng trường Cao đẳng sư phạm Quảng Trị, nghiên cứu sinh đang làm luận án Tiến sĩ. ông Quyền và ông Bình trong kháng chiến chống Mỹ đều tham gia du kích, trong hoà bình tham gia công tác hợp tác xã. Ông Trương Hữu Quế tham gia công tác sớm. Tập kết ra Bắc làm trưởng phòng tổ chức công ty cao su Quảng Bình.

36. Gia đình ông Trương Công Bạch (Mục Bạch)

Làm nghề nông, tương đối giàu có trong làng, ông có nhiều con trai, đều được ăn học, giác ngộ Cách mạng.
Con trai cả là liệt sĩ Trương Công Tự, sớm tham gia đội du kích của làng. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, do gan dạ, dũng cảm và có trình độ nên được cử làm Chính trị viên trung đội tự vệ xã. Khi bị giặc Pháp bất ngờ bao vây, đội du kích tìm cách chống cự nhưng tương quan lực lượng không cân sức nên phải tháo vòng vây chạy thoát, trung đội tự vệ bị tổn thất, ông Tự bị bắn gãy chân không chạy được, bị chúng bắn bồi mấy phát nên đã hy sinh.
Con trai thứ hai là Trương Công Do, sau đổi là Trương Công Diên, được trên cho vượt tuyến ra Bắc học. Năm 1950, ông tòng quân, vào học ở trường Lục quân Thanh Hóa. Khi về hưu, là Đại tá bốn sao.
Con trai thứ 3 là Trương Công Giao, tập kết ra Bắc, được Nhà nước cho ăn học đầy đủ, là cử nhân ngân hàng. Ông làm Giám đốc ngân hàng tỉnh Quảng Trị, là một cán bộ tài ba gương mẫu, quan tâm đến tỉnh nhà, làng nước dòng họ, bà con.
Con trai thứ 4 là Trương Công Bạt, giàu có, đóng góp tiền về làng làm nhà thờ tổ rất khang trang.

37. Gia đình ông Binh Tựu (Trương Văn Tựu)

Là một gia đình nông dân nghèo, làm thuê để kiếm sống. Anh ông Tựu là ông Trương Văn Bách, đang đi gặt lúa thì bị giặc Pháp bắt giam và bắn chết. Ông Tựu trước có đi lính cho Pháp, nhưng sau Cách mạng tháng 8 – 1945, ông vào du kích. Gan dạ, mưu trí, trong thời gian làm xã đội trưởng, phong trào chống Pháp của xã Linh Quang lên cao, ông đã chỉ huy nhiều trận đánh khiến quân thù khiếp sợ, như đặt bom ở bến đò Kênh, phục kích ở Quai Mọ… ông được toàn xã tin yêu và kính trọng. Ông Tựu có cháu gọi bằng chú là Trung tá Trương Văn Lập.

lang-mai-xa-chanh-voi-nhung-gia-dinh-tieu-bieu-tk20c

38. Gia đình ông Lê Đình Quế

Là một nông dân nghèo, nhưng có chí học tập, luôn luôn phấn đấu, ông sớm được kết nạp vào Đảng Cộng sản. Cuối năm 1947, ông gĩư chức Bí thư chi bộ xã. Năm 1949, ông chuyển lên huyện công tác. Trong những năm chiến tranh chống Mỹ, ông làm Bí thư huyện uỷ Gio Linh, cùng huyện uỷ lãnh đạo nhân dân chống luật 10/59, chống lập ấp chiến lược, đòi hiệp thương, chống khủng bộ, bảo tồn lực lượng đội quân Cách mạng…thời gian sau, khi lên công tác ở tỉnh thì bị giặc Mỹ bắt giam.
Cháu gọi ông Quế bằng ông là Lê Quốc Phong, là một người năng động, tháo vát. Thời chống Mỹ, là quân tình nguyện ở Cam pu chia, trong thời đổi mới là Tổng Giám đốc Công ty phân bón Bình Điền, thành phố Hồ Chí Minh. Phân bón của công ty Bình Điền được người trong nước và nước ngoài tin dùng. Ông Phong còn là Chủ tịch Câu lạc bộ doanh nghiệp người Quảng Trị ở thành phố Hồ Chí Minh. Câu lạc bộ này đã nhiều lần tặng nhà tình nghĩa, quỹ khuyến học cho tỉnh Quảng Trị. Ông Phong cũng là người tài trợ chính giúp làng Mai Xá Chánh làm lại Dinh Ông và đình làng Mai. Ông được Nhà nước khen là một doanh nhân giỏi.

39. Gia đình ông Trương Khắc Bang

Là gia đình trung nông loại vừa, kinh tế đủ sống và cho con học tập. Con ông là Trương Khắc Kỷ, tốt nghiệp Đại học, là một cán bộ tỉnh có năng lực.

Bà Trương Thị Đỉu chị ông Kỷ, tham gia cách mạng sớm, là một cán bộ phụ nữ xã, đã từng vào ra vùng địch hậu, bám đất, bám dân để hoạt động.

Ông Trương Khắc Noãn em ông Kỷ cũng là một cán bộ được đào tạo ở miền Bắc.

40. Gia đình bà Dùng

Trước nhà ông mục Bạch là nhà bà Dùng, tuy nghèo nhưng tích cực tham gia chống Mỹ cứu nước. Ông Nguyễn Sanh, sau này là Phó Chủ tịch tỉnh và ông Dũng là Phó Bí thư tỉnh ủy Quảng Trị… khi bám cơ sở hoạt động bí mật ở làng Mai Xá Chánh, đã ở hầm bí mật của nhà bà Dùng trong một thời gian dài. Bà bị giặc bắt, tra tấn nhiều lần chết đi sống lại nhưng cương quyết không khai. Bà là một phụ nữ xứng đáng với bảy chữ vàng “Gan Mai Xá như đá Hảo Sơn”.

41-Gia đình ông từ Triệc (Trương Hữu Triệc)

Là gia đình nghèo, hiền lành, đóng góp tích cực trong những năm chống Pháp và chống Mỹ. Liệt sĩ Trương Hữu Trọng là con trai ông, từng làm xã đội trưởng xã Gio Hà, gan dạ, thông minh, lập nhiều chiến công trong cuộc chống Mỹ cứu nước. Bà Trương Thị Bốn, con gái ông là một trong 7 cô gái làng Mai có nhiều chiến tích trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước, bà là một Huyện ủy viên hoạt động bí mật.

42. Gia đình ông xạ Khảm (Trương Văn Khảm)

Là một nông dân nghèo, có con tham gia kháng chiến, Liệt sĩ Trương Văn Thiên là con ông, một thanh niên có chí, học giỏi, sớm giác ngộ Cách mạng, tham gia đội tuyên truyền của thôn, của xã. sau làm Văn phòng Uỷ ban kháng chiến xã Linh Hưng. Làm việc tích cực, có tinh thần trách nhiệm cao, ông bị giặc Pháp bắn chết trong một cuộc vây ráp ở nơi đang làm việc.
43. Gia đình ông Trương Khắc Thiên

Con là Trương Khắc Hưng, tham gia đội thiếu niên của làng, tình báo, rải truyền đơn trong kháng chiến chống Pháp. Chiến đấu gan dạ, nắm được tình hình hoạt động của giặc, ông được cử làm Xã đội phó sau làm xã đội trưởng xã Linh Quang. Khi thì đội tự vệ phục kích tại Mai Xá, khi lên hoạt động ở thôn Vinh Quang Thượng và Hạ, khi băng qua Đôộng Hao Hao về Lâm Xuân Đông và Tây, trung đội tự vệ xã đánh địch nhiều trận, như trận gài mìn ở bến đò Kênh, trận phục kích giặc ở Quai Mọ. Đội du kích còn phối hợp với các đơn vị chủ lực vây đồn Mai Xá, phục kích địch ở cánh đồng Kênh…Trong các trận đánh trên, ông Hưng cùng xã đội trưởng vạch kế hoạch tác chiến hoặc cùng tham gia chiến đấu với đội tự vệ xã. Ông luồn lách khắp các thôn xóm của xã Linh Quang để vận động bà con tham gia chiến đấu, bảo đảm hậu cần, lo cứu thương cho đội du kích, cho bộ đội địa phương, lo bảo vệ Đảng uỷ, Uỷ ban kháng chiến xã…
Năm 1952 chuyển sang trung đoàn 18 rồi được biệt phái sang Lào công tác.

44. Gia đình ông Hoàng Văn Kính (ở xóm Đồng)

Là nông dân nghèo, có sức khỏe tốt, ông là một cán bộ hoạt động bí mật tích cực thời chống Pháp. Đội tự vệ xã thường đóng trong nhà ông, bốn bề tre mọc che kín như những bức tường. Trong kháng chiến chống Mỹ, con đầu Trần Văn Cẩn năm 1970 làm bí thư Đảng ủy xã Gio Hà. Con thứ hai là Hoàng Thí trung tá huyện, đội trưởng huyện Gio Linh. Con thứ ba Hoàng Văn Thời tham gia du kích, hoạt động bí mật. Hòa bình lập lại được bầu làm bí thư Đảng ủy xã Gio Hà.

45. Gia đình ông Lê Lự

Nhà ông một mình ở giữa cánh đồng làng, thường gọi là xóm Đồng. Trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, ông cũng hoạt động tích cực. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, ông đào hầm bí mật nuôi cán bộ, bộ đội. Con trai ông là Lê Kế là một trong những thanh niên của làng tham gia Vệ quốc đoàn sớm nhất, đóng quân nhiều nơi, tham gia nhiều trận đánh. Hoà bình lập lại ông Kế làm Trưởng ban tổ chức, Phó Viện trưởng Viện Công cụ Trung ương.

46. Gia đình ông Trương Khắc Tràng

Là gia đình nghèo, các con tham gia cách mạng sớm: Ông Trương Khắc Minh bộ đội trung đoàn 95, đã anh dũng hy sinh trong trận chiến đấu ác liệt với quân thù năm 1953 khi tham gia chiến dịch Hà Nam Ninh, là liệt sỹ. Ông Trương Khắc Bốn, đi bộ đội trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ông Trương Khắc Lân, được công nhận là liệt sĩ năm 1966 tại quê hương.

47. Gia đình ông Trương Hữu Diệm

Gia đình là cơ sở Cách mạng. Con trai ông là Trương Hữu Quyền được bầu làm ủy viên thường vụ Đảng uỷ, Chủ tịch UBND xã Gio Mai, là vị Chủ tịch trẻ, nhiệt tình, năng động, sáng tạo, có nhiều uy tín.

48. Gia đình ông Trương Hữu Kỳ

Gia đình vào loại trung nông, con cái đông. Ông tuy bệnh tật nhưng giáo dục con cái cẩn thận.
Con trai Trương Hữu Chướng nhà bình thường, con cái cháu chắt đều chăm làm, chăm học, nhiều người tốt nghiệp đại học.
Con thứ hai là Trương Hữu Ngọc (Nghịch) là cán bộ tiền khởi nghĩa, có ba con trai. Con cả là cán bộ của Quân đội nhân dân. Con thứ hai là Trương Hữu Đức tập kết ra Bắc, tốt nghiệp Đại học Kinh tế, đựơc cử đi B, vào hoạt động ở vùng Quảng Trị nhiều năm. Tuy gian khổ, nhưng luôn luôn trung thành với Cách mạng, hoàn thành tốt nhiệm vụ. Sau năm 1975, ông nhận nhiều công tác quan trọng, như: Phó Giám đốc Sở Tài chính, Giám đốc Công ty Bảo hiểm tỉnh Quảng Trị. Trước khi về hưu, ông được tặng Huân chương Lao động hạng Ba. Con thứ ba là Trương Hữu Chút, làm Hiệu trưởng nhiều năm. Con cái ông Chút đều thành đạt.

lang-mai-xa-chanh-voi-nhung-gia-dinh-tieu-bieu-tk20

Con thứ ba của ông Kỳ là Trương Hữu Dũng (Dõng) đi bộ đội rất sớm. Là cán bộ chỉ huy vào sinh ra tử ở mặt trận Điện Biên Phủ, sau đi B vào chiến trường Tây Ninh hàng chục năm. Ông là một sĩ quan có năng lực, trung thành với Cách mạng. Năm 1975, về tiếp quản Sài Gòn, làm Chính ủy Quân y Viện 74. Khi về hưu, được phong quân hàm thượng tá quân đội.

49. Gia đình ông Thủ Mày (Trương Hữu Hoạch)

Là một gia đình trung nông.
Con đầu là Trương Hữu Diệp (năm nay trên 80 tuổi), các con ông được học hành tử tế.
Con thứ hai là Trương Hữu Dinh (Dược), tham gia Cách mạng sớm.
Con thứ ba là Trương Hữu Mãng. Vào Vệ quốc đoàn sớm, khi xuất ngũ làm Giám đốc một Công ty ở thành phố Hồ Chí Minh.
Con thứ tư là Trương Hữu Bôn, tốt nghiệp đại học, Giám đốc công ty Dược ở Vĩnh Linh.

50. Gia đình ông thầy Tuần

Gia đình chuyên làm thầy cúng. Thầy Cảnh, con ông cũng là thầy cúng. Khi làng có lễ, hội, việc cúng giỗ đều mời ông. Con cháu ông có người học rất giỏi, như Trương Hữu Vĩ, đỗ đại học với điểm rất cao, và là một sinh viên xuất sắc.

51. Gia đình bà mẹ anh hùng Trần Thị Sữa

Bà có 3 người con là liệt sĩ: Anh Trương Quang Khun năm 1947 chủ nhiệm Việt Minh xã Linh Hưng. Anh Trương Quang Phẩm (Xiêm con) du kích. Anh Trương Quang Phỉ chính trị viên phó đại đội năm 1948 được Hội đồng nhân dân xã Linh Hưng bầu làm chủ tịch xã. Các cháu nội của bà đều thành đạt:
Anh Trương Quang Vinh làm giám đốc Đài Truyền hình Quảng Ninh.
Anh Trương Quang Thanh dạy cấp 3 thành phố Đông Hà.
Anh Trương Quang Tùng có công sưu tầm tài liệu về lịch sử và các bài báo viết về làng. Nhờ tích cực làm ruộng và nuôi tôm đủ tiền cho con học đại học, các con của anh Tùng đều thành đạt.

lang-mai-xa-chanh-voi-nhung-gia-dinh-tieu-bieu-tk20e

52. Gia đình ông Cửu Hường

Kinh tế thời xưa khá, con cái tham gia Cách mạng sớm:
Con trai đầu là Trương Quang Hường, sau năm 1945 tham gia Cách mạng. Năm 1949, được kết nạp Đảng, tốt nghiệp Đại học Tài chính. Năm 1976, là Phó giám đốc, Bí thư Đảng Công ty Cung ứng vật tư. Có bốn con đều tốt nghiệp Đại học, thành đạt.
Con thứ hai là Trương Quang Giáo. Những năm 1954 – 1956, hoạt động bí mật, đến năm 1966 bị giặc bắt đi tù. Là người hiểu biết rộng và có uy tín với dân làng, ông có năm người con, đều thành đạt. Con trai đầu là Trương Quang Viên, tốt nghiệp Đại học sư phạm, làm Hiệu trưởng lâu năm trường THCS, tám cháu nội, ngoại ông Giáo đều tốt nghiệp Đại học…

53. Gia đình ông Tạ Hịm

Con cháu tham gia công tác cách mạng sớm. Con ông là liệt sĩ Tạ Diệm, đă từng làm thư ký UBKC xã Linh Quang thời chống Pháp. Con ông Diệm là Tạ Duật được ra Bắc học tập. Sau khi du học Liên Xô. (cũ) về nước, vào ngành công an rồi công tác tại Sở Công an Đà Nẵng. Trước khi về hưu, là Thượng tá công an. Cháu ông là Tạ Quả, một doanh nhân thành đạt, xây khách sạn to nhất nhì ở thị xã Đông Hà, nhận thi công nhiều công trình ở khắp miền Trung.

54. Gia đình ông Lê Chiểu

Là gia đình nông dân nghèo, luôn luôn trung thành với Cách mạng. Sau hoà bình, có một thời gian ông làm Trưởng làng. Con ông là Lê Hiển được ra Bắc, học ngành sư phạm xong đi dạy, rồi làm Hiệu trưởng. Về hưu ông về làng, tích cực tham gia việc làng, việc họ.

55. Gia đình ông Cửu Kiếm (Trương Khắc Kiếm)

Ông có hai con trai đều trở thành cán bộ cách mạng. Ông Nguyễn làm cán bộ xã, và liệt sĩ Nguyên, vào bộ đội đánh giặc gan dạ, đã hy sinh trong một trận đánh quân Pháp.

56. Gia đình ông Bát Mễ (Trương Khắc Mễ)

Ông là bát phẩm văn giai, được cử làm thừa phái ở các huyện trong tỉnh và các tỉnh khác. Cách mạng tháng 8 thành công, ông tham gia công tác chính quyền Cách mạng. Hai con gái ông tham gia công tác phụ nữ. Hai con trai là Trương Khắc Tập, Trương Khắc Rê đều là cán bộ nhà nước.

57. Gia đình ông Nhàn (Trương Hữu Nhàn)

Trước và sau Cách mạng đều làm thầy cúng. Ông có con tham gia tự vệ, bị hy sinh ở Đường 9, được công nhận là liệt sĩ. Gia đình tuy nghèo nhưng góp nhiều công trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

58. Gia đình bà Phương

ở xóm trên, có con trai thời Pháp thuộc đi lính Pháp, sau theo Cách mạng. Cháu nội tên là Pháp (Hà Phi) là liệt sĩ, vào Vệ quốc đoàn, chiến đấu gan dạ, hy sinh dũng cảm trong trận giặc Pháp càn chiến khu Cùa, Quảng Trị.

59. Gia đình ông Khoá Thẩm (Trương Quang Thẩm)

Con cái tham gia Cách mạng sớm. Con trai là Trương Quang Khôi vào tự vệ đợt đầu của làng. Đội cảm tử của làng gồm có các ông: Lê Đình Khuyến, Lê Phú, Phan Nậy, Trương Quang Khôi, Bùi Văn Sinh đã tham gia chiến đấu với trung đoàn thiện thuật ở đường 9, khi mặt trận đường 9 vỡ.

60. Gia đình ông Từ Xin (Bùi Xin)

Là gia đình trung nông tham gia Cách mạng sớm. Con là Bùi Nồng, tốt nghiệp Đại học sư phạm, là giáo viên cấp 3.

61. Gia đình ông Khoá Đẳng (Trương Quang Đẳng)

Luôn trung thành với Cách mạng, có con là Trương Quang Cửu tham gia công tác sớm, được ra Bắc học tập thành cử nhân. Con gái Trương Thị Vấn là một cán bộ phụ nữ tích cực, thời kháng chiến chống Pháp xâm lược.

lang-mai-xa-chanh-voi-nhung-gia-dinh-tieu-bieu-tk20a

62. Gia đình ông bộ Thạnh (Trương Quang Thạnh)

Thuộc loại gia đình nông dân khá giả của làng, ông được học hành tử tế, làm hương bộ. Bà Trương Quang Thị Láo con gái ông ở nhà làm ruộng. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ có nhiều công lớn nuôi dấu cán bộ trong nhà ở gần nhà xã trưởng, nhưng bà gan dạ, thương người, không sợ địch bắt bớ. Sĩ quan đặc công Nguyễn Tình thuộc bộ đội đặc công thuỷ thường trú ẩn ở làng. Một buổi sáng đi làm nhiệm vụ về, quần áo còn ướt thì không may bị lính phục kích đuổi gấp. Ông Tình chạy vào nhà bà Láo, nước từ quần áo rơi xuống cả sân và nền nhà. Bà Láo bảo ông leo lên “tra” để trốn, rồi múc nước đổ ra cả nhà lẫn sân. Bà lôi đứa cháu ra đánh mắng về “tội” làm đổ nước ra nhà, ra sân…Khi bọn lính ập tới hỏi bà có thấy Việt cộng chạy qua đây không thì bà thản nhiên trả lời rằng “Có nhưng họ đã chạy ra phía đằng sau rồi!”. Bọn lính vào nhà lùng sục và nhìn lên “tra” hỏi: “Có phải nó trốn ở trên ấy không?” thì bà Láo nói: “Không, nếu các ông không tin thì leo lên “tra” xem!”. Bọn lính không trèo lên, chúng chỉ bắn mấy phát súng lên “tra” rồi rút lui. ông Tình được một phen hú vía, nếu bà Láo không khéo lừa giặc thì chắc ông không còn… Sau ngày giải phóng miền Nam, ông Tình được phong hàm đại tá tham mưu Trưởng binh chủng Hải quân, nay là Phó đô đốc, Phó tư lệnh (Trung tướng) Hải quân, ủy viên Trung ương Đảng), thỉnh thoảng có trở về thăm làng Mai và thăm bà Láo.

63. Gia đình ông Trương Văn Sút

Sống bằng nghề làm ruộng là chính, ông có em là Trương Thị Xuyên, một người con gái hiền từ, nết na, có tài ca hát: hò mái nhì rất hay, đối đáp rất thông minh. Những đêm trăng sáng, trời mát mẻ, dân làng thường tập trung ngồi ở gò làng để nghe bà Xuyên và những ca sĩ nghiệp dư đi thuyền qua sông cùng hát đối đáp với nhau.

64. Gia đình ông Kề (Trương Quang Kề)

Là một gia đình nông dân bình thường, nhưng có sáng kiến chống Mỹ rất khéo léo. Bè lũ Mỹ – ngụy thường vây lùng, khủng bố, rình bắt cán bộ, du kích, nhưng xóm Soi luôn tin tưởng bộ đội cụ Hồ, tin vào đường lối chiến tranh của Đảng. Để che dấu cán bộ, du kích, bộ đội thường về xóm Soi hoạt động, ông Kề đào hầm bí mật kiên cố, nguỵ trang công phu, nên đã nuôi dấu cán bộ được một thời gian dài. Một hôm, bọn giặc phục kích bắn chết một cán bộ của ta, chúng phát hiện được hầm bí mật ở nhà ông, bọn giặc tra tấn nhưng ông đã không khai báo gì cả. Rút cục, bọn giặc phải thả ông về. Ông có bốn người con đều tham gia hoạt độngCách mạng.

65. Nhà ông Bùi Thản (Thông Thản)

Gia đình khá giả, làm ăn tốt, ông sớm tham gia công tác cách mạng. Đầu năm 1947, được bầu làm Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, sau lên công tác ở tỉnh Quảng Trị. Con cháu ông đều thành đạt: Con trai đầu Bùi Viên là Thượng tá công an, Hội viên Hội nhà văn thành phố Hồ Chí Minh. Con ông Viên là Bùi Tâm đạt học vị tiến sỹ. Con thứ hai của ông Thản là Bùi Điền đỗ cử nhân. Người con thứ ba là Bùi Thiết cũng đỗ cử nhân, làm giám đốc công ty ở thành phố Hồ Chí Minh, người con thứ tư, thứ năm là Bùi Thành, Bùi Thạnh cũng thành đạt.

66. Gia đình ông Bùi Kèo

Gia đình trung nông, kinh tế bình thường. Con ông là Bùi Cúc, tham gia cách mạng sớm. Trong kháng chiến chống Pháp, làm Bí thư chi bộ xã, sau lên tỉnh công tác. Ông Bùi Dũng con ông Bùi Cúc là một quân nhân được phong hàm đại tá, Tham mưu trưởng tỉnh đội Quảng Trị. Kỹ sư Bùi Bang, em ông Bùi Cúc là một cán bộ cốt cán.

67. Gia đình ông Lê Quày

Gia đình bần nông này nhiều con trai, nhiều người đi bộ đội. Các con trai là:
– Lê Phú, tham gia đội cảm tử đánh Pháp ở đường số 9, đã anh dũng hy sinh.
– Lê Sàng vào Vệ quốc đoàn, sau tập kết công tác ở miền Bắc.
– Lê Hậu, có con gái là Lê Thị Dung, sau xây dựng gia đình với ông Bùi Luyện. Ngoài làm ruộng, ông Luyện còn đi làm thợ mộc, vợ lo buôn bán nhỏ. Hai vợ chồng tích cực làm ăn, nên kinh tế gia đình vào loại tương đối, nuôi 9 người con ăn học. Nhiều người đỗ đại học, 9 người con đều có công ăn việc làm ổn định.

68. Gia đình ông Trương Hữu Toại

Là nông dân thuần tuý, ông có tài làm vè và kể chuyện bằng vè rất hấp dẫn. Đêm ngồi nấu bánh chưng Tết mà được nghe ông kể vè thì không bao giờ chán, thức suốt đêm cũng được. Con ông là Trương Hữu Tuyển, tốt nghiệp Đại học, trở thành cán bộ giảng dạy trường Đại học Nông nghiệp, các con cháu ông đều trưởng thành cả.

69. Gia đình ông Binh Phó

Gia đình nông dân, con cháu đều tham gia cách mạng. Con trai ông là Trần Lung, cán bộ được tập kết ra Bắc. Cháu nội là Trần Thành huế, được ra Bắc học trường miền Nam, sau du học ở Liên Xô (cũ), tốt nghiệp đại học, về giảng dạy rồi làm Chủ nhiệm Khoa Hoá, Đại học Sư phạm Hà Nội. Phó giáo sư, tiến sỹ Trần Thành huế thường dẫn đoàn học sinh đi thi hóa Quốc tế.

70. Gia đình ông Lê Đông Tương

Ông đi bộ đội tình nguyện chiến đấu ở Lào, sau sang Thái Lan hoạt động. Năm 1955 về nước làm ở Ty Tài chính tỉnh Hà Tây. Con ông là ông Lê Hạnh nay là Phó giám đốc Công ty TNHH một thành viên về phát triển nhà Hà Nội. Ba cháu con ông Hạnh đều tốt nghiệp Đại học, có công việc làm tốt.

Trên đây là 70 gia đình có công cách mạng,những người con vang danh của đất lửa Mai Xá Chánh một thời. Truyền thống tốt đẹp ấy mãi mãi là bản hùng ca, là thần đồng bất tử trong tâm khảm thế hệ con cháu làng Mai. Họ đã sống và chiến đấu cho mỗi ngôi nhà , ngọn núi, con sông.. “Thép đã tôi thế đấy” thế hệ trẻ chúng ta sẽ làm gì? để xứng đáng với câu nói: ” Gan Mai Xá đá Hảo Sơn” của nữ anh hùng du kích Trương Quang Thị Bền ngày ấy. Trân trọng! gửi lời chào thân thương, lời chúc tốt đẹp nhất đến bà con làng Mai Xá Chánh thân yêu của tôi. Xin mạn phép hai câu thơ của người con Quảng Trị- Chế Lan Viên để kết thúc bài viết hôm nay.

“Khi ta ở chỉ là nơi đất ở

Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”

Mai Linh

    1 Bình luận về “Làng Mai Xá Chánh với những gia đình tiêu biểu TK 20

    Gửi bình luận

    Your email address will not be published. Required fields are marked *

    CÓ THỂ BẠN SẼ THÍCH