Bộ môn xã hội hẩm hiu cả thầy và trò

Trong trường phổ thông, việc học sinh không mặn mà với các môn khoa học xã hội đã diễn ra từ lâu. Thực tế qua thống kê số hồ sơ thi đại học nhiều năm thì hầu hết học sinh đăng ký các môn tự nhiên, thí sinh khối C rất ít, chỉ chiếm khoảng 5-10%.

Vì sao học sinh quay lưng?

Một điều dễ nhận thấy là hiện nay các môn xã hội được thi theo hình thức tự luận còn Lý, Hóa, Sinh thì được thi theo hình thức trắc nghiệm. Trắc nghiệm dễ ăn điểm hơn tự luận. Thi trắc nghiệm với 4 phương án chọn 1 thì dù không học gì nhưng đánh dấu theo xác suất cũng có thể được 2,5 điểm/10 điểm toàn bài. Còn thi tự luận thì đương nhiên không học thì làm gì được điểm!

Trong các kì thi vừa qua, số mã đề trắc nghiệm trong mỗi phòng thi thường là 6-8 đề. Nếu mỗi phòng thi có 24 thí sinh, thì trong phòng thi có 3-4 em trùng mã đề nhau. Việc đánh số báo danh “dích dắc” trong phòng thi nhằm làm cho các học sinh (HS) ngồi gần nhau không bị trùng đề, nhưng cũng không khó để HS sớm phát hiện ra trong phòng thi những ai là “đồng minh” của mình để rồi có cơ hội thì trao đổi (có khi chỉ dùng kí hiệu) thông tin đáp án cho nhau.

Thi trắc nghiệm nếu trong phòng thi có vài em học khá và việc trông thi chỉ hơi lơi lỏng thì kết quả thi không còn gì là khách quan nữa. Cuộc thi tốt nghiệp THPT không có tính cạnh tranh như thi đại học, hơn nữa các thí sinh lại là bạn bè biết nhau nên dễ trao đổi, bảo bài nhau. Khi thi trắc nghiệm việc hỏi bài, nhìn bài và tích (tô) theo ý đúng quá dễ; còn thi tự luận thì nhìn bài và chép bài khó hơn, lâu hơn, dễ bị lộ hơn.

bo-mon-xa-hoi-ham-hiu-ca-thay-lan-tro2Ngày càng ít học sinh chọn học môn Lịch sử

Được đăng kí môn thi hiển nhiên là HS thích thi các môn tự nhiên để được thi trắc nghiệm hơn rồi. Giả sử như Bộ thay đổi lại là các môn tự nhiên cũng phải thi tự luận như trước đây thì chắc chắn tình hình sẽ khác hiện tại ngay, sẽ có không ít HS lại quay ra đăng kí thi các môn xã hội.

Một giả định ở mức cao hơn: nếu Bộ cho đổi lại là các môn tự nhiên thi tự luận, còn Địa, Sử được thi trắc nghiệm thì tôi tin chắc tỉ lệ đăng kí môn thi tốt nghiệp nếu không đảo ngược thì chí ít cũng là 50 – 50%.

Gọi là thi “trắc nghiệm khách quan” nhưng nó chỉ “khách quan” khi thi nghiêm túc. Điều này lí giải tại sao cũng là thi trắc nghiệm nhưng khi thi tốt nghiệp Lý, Hóa, Sinh có kết quả rất cao nhưng trong kì thi đại học sau đó với đa phần là kiến thức cơ bản mà rất nhiều em lại được điểm thấp, thậm chí chỉ đạt 1-2 điểm.

Trong trường phổ thông việc học sinh không mặn mà với các môn khoa học xã hội đã diễn ra từ lâu. Thực tế qua thống kê số hồ sơ thi đại học nhiều năm thì hầu hết HS đăng ký các môn tự nhiên, thí sinh thi khối C rất ít chỉ chiếm khoảng 5-10%. Không chỉ có vậy chất lượng bài thi đại học, cao đẳng các ngành thuộc khối C cũng thấp.

Nguyên nhân quan trọng nhất phải khẳng định là do học khối C thì HS quá ít cơ hội, ít trường, ít ngành được cho là “hot” ở các trường đại học tuyển. Và học xong các môn khối C ra trường cũng khó kiếm việc làm.

Sự “lên ngôi” của các ngành kinh tế, khoa học kĩ thuật, công nghệ với khả năng kiếm tìm cơ hội việc làm nhiều hơn, thu nhập cao hơn đã đẩy các ngành khoa học xã hội xuống hàng thứ yếu và trong nhà trường các môn xã hội bị coi là các môn “phụ” bố trí ít tiết giảng dạy, coi nhẹ trong đánh giá kết quả và HS cũng ít đầu tư cho các môn học xã hội. Thực tế trong nhiều gia đình, phụ huynh chỉ nhắc nhở con em mình làm Toán, Lý, Hóa chưa chứ mấy ai nhắc học Địa, Sử, Giáo dục công dân.

Trường học là môi trường rèn luyện, nhưng sự rèn của HS giờ không vô tư như trước mà mang tính thực dụng quá cao. HS dành thời gian cho các môn tự nhiên hơn không hẳn là HS yêu các môn tự nhiên hơn, mà quan trọng nhất là do các môn tự nhiên mang lại cho HS nhiều cơ hội nghề nghiệp. Nếu cứ chiều theo HS, bảo em thích gì thì học, không thì thôi, tin rằng đa số chọn hướng được chơi cho sướng, thoải mái đầu óc chứ chẳng tội gì mà phải học bởi cái sự học bao giờ chẳng vất vả gian nan.

Bộ môn xã hội với các vần đề xã hội có sức thu hút cao. Nhưng với nội dung không cập nhật và thiếu tính thực tiễn có thể làm tăng thêm tâm lí chán nản cho người học.

Ý nghĩa lớn lao nhất của việc học lịch sử không phải để HS nhớ các con số, sự kiện mà để hun đúc lòng yêu nước, tinh thần dân tộc cho các thế hệ HS. Việc giáo dục ấy có khi bằng ngay những câu chuyện về những con người cụ thể. Tiếc thay, sách giáo khoa (SGK) lịch sử có thừa những con số nhưng lại thiếu trang viết, thiếu hình ảnh về những con người như thế.

Điển hình là trường hợp của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị Tổng tư lệnh tối cao đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, người đã trực tiếp chỉ huy nhiều chiến dịch quan trọng trong lịch sử kháng chiến của dân tộc mà trong đó nổi bật là chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 lừng lẫy 5 châu, chấn động địa cầu, chiến thắng đã làm sụp đổ chế độ thực dân cũ; và cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất Tổ quốc.

Những chiến dịch quan trọng, là mốc son của lịch sử Việt Nam này đều hiện diện trong các trang sách nhưng tên tuổi, cuộc đời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp – người được cả thế giới phải khâm phục về tài cầm quân và nhân cách “dĩ công vi thượng” của ông, lại không hề được nhắc đến.

Ngoài ra, một số sự kiện lịch sử quan trọng, dư luận xã hội rất quan tâm cũng không được đề cập một cách đầy đủ, xứng đáng trong sách giáo khoa.

Khi bắt đầu làm SGK cho chương trình cải cách giáo dục từ năm 2002, Bộ Giáo dục đã có định hướng “giảm tải” ở các môn. Song kết cục thì dường như kiến thức môn nào cũng được cập nhật nhiều hơn, sách dày hơn, to hơn trước rất nhiều. Nội dung địa lí trong trường phổ thông cũng không ngoại lệ. Trước khi cải cách, SGK Địa lí lớp 12 dày 96 trang khổ 14,5 x 20,5 cm với 27 bài; còn SGK lớp 12 chương trình cơ bản sau cải cách hiện đang thực hiện có 208 trang khổ 17 x 24 cm với 45 bài. So với chương trình cũ, SGK mới có thêm hẳn phần địa lí tự nhiên.

Nỗi niềm của người thầy dạy môn xã hội

Một giáo viên (GV) nêu ý kiến cần duy trì thi môn của mình, rất có thể gây hiểu lầm rằng có lợi ích gì trong đó kiểu như “Hay để dạy thêm thiếc gì đây”. Với các môn xã hội xin khẳng định không có vấn đề này, duy trì thi không phải để trục lợi.

Cũng xin mở ngoặc thêm rằng dư luận cũng đừng nên phê phán việc dạy thêm nếu đó là thực chất. Dạy thêm nhằm đào sâu củng cố kiến thức, khái quát, tổng kết vấn đề thì rất tốt và người thày rất tốn công phu, phải có kinh nghiệm mới làm được. Còn dạy thêm giúp học sinh giải bài thôi thì sinh viên (gia sư) cũng làm được; đặc biệt dạy thêm theo kiểu dạy trước chương trình (rất nhiều phụ huynh do chưa hiểu nên chấp nhận thế) thì quá đơn giản mà có khi lại phản tác dụng, làm cho HS vào năm học lười suy nghĩ, thụ động, chủ quan.

Phàm là người có lòng tự trọng đã không chấp nhận được sự đãi ngộ thì bỏ, còn đã làm thì làm đến nơi đến chốn, làm hết tâm sức của mình. Việc đi dạy do “yêu nghề”, do cái “nghiệp” đã bám vào thân, hay bởi một lí do gì khác có lẽ mỗi người trong cuộc mới hiểu và lí giải được, có điều chắc chắn rằng nếu chỉ trông chờ vào lương dạy học, GV xã hội không thể lo cuộc sống tốt cho gia đình.

bo-mon-xa-hoi-ham-hiu-ca-thay-lan-troPhải chăng các em học môn xã hội là phải có năng khiếu?

Có phải vậy chăng mà qua hơn 30 năm dạy học, biết hàng trăm nhà giáo và dù sư phạm không được ưu ái trong hướng lựa chọn nghề của giới trẻ hiện nay song tôi vẫn được thấy không ít bố mẹ là GV phổ thông cho con tiếp bước theo nghề dạy học của mình, nhưng tuyệt đại đa số lại chỉ cho con thi vào các môn khoa học tự nhiên hoặc ngoại ngữ. Số cho con thi vào các ngành xã hội rất hiếm, kiểm lại chưa đủ số ngón tay trên một bàn tay, vài trường hợp ấy bố mẹ lại đã về hưu. Phải chăng các cụ giáo cao tuổi ấy khi hướng nghiệp cho con đã không thức thời trước thời cuộc?

Đấy là câu hỏi đớn đau, một sự thật đắng lòng!

Thực tế các GV xã hội đều không muốn môn mình phải thi tốt nghiệp một cách liên tục. Bởi như vậy đồng nghĩa với việc bị tăng tiết ôn tập, phải vất vả bám trường nhiều hơn mà tiền lương vẫn thế; rồi phải đi chấm thi dù có được bồi dưỡng theo chế độ nhưng cũng chẳng đáng là bao.

Vì khả năng môn mình bị thi tốt nghiệp nên khi ra đề kiểm tra trong năm học GV cũng phải thận trọng hơn, chấm kĩ hơn theo biểu điểm rõ ràng bởi điểm số là thước đo chất lượng bài và khả năng học, có tác dụng khuyến khích hoặc cảnh báo sức học cho HS. Khi môn thi tốt nghiệp được công bố, GV phụ trách bộ môn thi cũng không dám quá nới lỏng điểm số môn mình phụ trách bởi e HS chủ quan khi đi thi, hoặc giả dụ cho HS được điểm giỏi mà đi thi lại được điểm thấp thì không ổn…

Với phương án HS được chọn môn thi tốt nghiệp, số HS đăng kí thi các môn xã hội ít cũng làm một số GV thấy đỡ bị áp lực, bớt vất vả hơn. Bởi chẳng còn công cụ đo đếm gì nữa, chẳng phải lo “dọa” rằng các em cố học nhé, không đến khi thi tốt nghiệp lại trượt mất.

Một bộ môn không phải thi tốt nghiệp thì điểm tổng kết lại có thể sẽ cao. Nếu không thi lịch sử nữa, nhưng điểm tổng kết lịch sử của các trường năm sau chưa chắc thấp hơn mà có thể còn cao hơn năm nay. Đơn giản là không phải thi nữa, dù HS ít chú ý học nhưng GV ra đề dễ hơn, đặc biệt chấm “thoáng” hơn, nhanh hơn, điểm tổng kết HS cao hơn, GV đỡ vất vả mà HS, phụ huynh rồi GV chủ nhiệm đều thích.

Tuy nhiên nhiều GV xã hội lại cảm thấy chạnh lòng. Đặc biệt là các GV lịch sử.

Xã hội giờ có quá nhiều áp lực, mà có khi lại là các áp lực không đáng có. Tôi chợt nhớ vụ clip học sinh xé đề cương ôn tập lịch sử ở trường THPT Nguyễn Hiền (TP Hồ Chí Minh) tháng 3/2013. Đơn giản đó chỉ là hành động bột phát giải tỏa stress của học trò với một môn học khó ăn điểm khi thi. Vậy mà nhiều người nhân đó coi người viết sách lịch sử như tội đồ, và HS thể hiện như vậy thì hẳn GV dạy Sử phải rất yếu kém (?) Dư luận, truyền thông như thế thật quá vô cảm, tàn nhẫn với ngành giáo dục, với các nhà giáo. Thực hiện việc đăng kí môn thi thì cầm chắc rằng sẽ rất ít học sinh đăng kí thi lịch sử. Thậm chí sẽ có trường không có học sinh nào đăng kí thi tốt nghiệp môn sử như ở Trường THPT Lương Thế Vinh (Hà Nội) năm nay. Với kinh nghiệm ứng phó với truyền thông và trên hết là sự hiểu thấu bản chất vấn đề, hiệu trưởng Trường THPT Lương Thế Vinh – PGS. Văn Như Cương đã khẳng định luôn rằng “Không phải HS Trường THPT Lương Thế Vinh dốt môn Sử. Mấy năm trước khi môn sử thi bắt buộc, hầu hết HS của trường đều đạt điểm trên trung bình”. Nếu chỉ nêu con số thống kê tỉ lệ đăng kí tốt nghiệp môn thi chắc chắn các giáo viên dạy Sử Trường THPT Lương Thế Vinh cũng sẽ chịu chung số phận bị “ném đá” như ở Trường THPT Nguyễn Hiền.

Lịch sử là gạch nối giữa quá khứ với hiện tại và tương lai. GS.NGND Phan Huy Lê – Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam khẳng định: “Môn Sử không chỉ trang bị một vốn kiến thức cần thiết về lịch sử dân tộc và thế giới, mà còn góp phần quan trọng trong bồi dưỡng lòng yêu nước, chủ nghĩa nhân văn, tinh thần tôn trọng các giá trị lịch sử văn hóa nhân loại, trong hình thành nhân cách và bản lĩnh con người, ý thức trách nhiệm của công dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Các em lớn lên, quay lưng lại với lịch sử chính là quay lưng lại với quá khứ của mình thì hệ lụy sẽ là khôn lường”.
Sinh thời, cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng cho rằng: Môn lịch sử không chỉ trang bị cho thế hệ trẻ những kiến thức cơ bản về lịch sử dân tộc và thế giới mà còn giữ vai trò quan trọng bậc nhất trong giáo dục chủ nghĩa yêu nước, các giá trị truyền thống và cách mạng, góp phần xây dựng nhân cách, bản lĩnh con người, giữ gìn bản sắc dân tộc…

Và ngay từ thời trứng nước của cách mạng Việt Nam, năm 1941 tại chiến khu Việt Bắc, Bác Hồ đã viết tập “Việt Nam Quốc sử diễn ca” để làm tài liệu học tập cho cán bộ trong các lớp huấn luyện ở chiến khu thời đó.Ngay câu mở đầu Bác đã viết: Dân ta phải biết sử ta / Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.

Với tầm quan trọng như vậy, thiết nghĩ xã hội ta và trước hết là ngành giáo dục cần có những động thái để nâng cao vị trí môn lịch sử trong nhà trường.

Quan trọng hàng đầu là cần mở rộng hơn cánh cửa đại học cho thí sinh khối C: không chỉ vào các ngành xã hội ở ĐH Sư phạm, Khoa học xã hội và nhân văn, Luật, Báo chí, mà còn các ngành khác như quản lí đất – môi trường, kinh tế, ngoại thương, ngoại giao, công an, quân đội … (xin nhớ là Đại tướng Võ Nguyên Giáp vốn là một giáo viên lịch sử)

 

Vũ Quốc Lịch

    Gửi bình luận

    Your email address will not be published. Required fields are marked *

    CÓ THỂ BẠN SẼ THÍCH